Các bên

  • Nguyên đơn: Người bán Singapore
  • Bị đơn: Người mua Việt Nam

Các vấn đề được đề cập

  • Việc từ chối nhận hàng của bị đơn
  • Số tiền thiệt hại do nguyên đơn đòi bồi thường
  • Việc giao hàng chậm của nguyên đơn
  • Số tiền thiệt hại do bị đơn kiện lại đòi bồi thường

Tóm tắt vụ việc:

Nguyên đơn và bị đơn đã ký hợp đồng ngày 29/6/1994, theo đó nguyên đơn bán cho bị đơn giấy gói kẹo có in nhãn và tên cụ thể theo điều kiện CIF Hải Phòng: giao hàng từng đợt. Mở L/C và giao hàng đợt một: theo Annex 1. Mở L/C và giao hàng đợt hai và các đợt khác: Bị đơn sẽ thông báo cho nguyên đơn bằng Telex hoặc Fax. Thời gian giao hàng là 20 ngày sau khi mở L/C.

Sau hai đợt giao hàng, ngày 11/2/1995 nguyên đơn fax cho bị đơn là đã sản xuất xong lô hàng trị giá 77.705 USD và yêu cầu bị đơn mở L/C để giao hàng tiếp. Ngày 17/5/1995, bị đơn telex đồng ý nhận lô hàng đó làm hai lần: lần đầu vào giữa tháng 6/1995 còn lần hai thì sau lần đầu. Nhưng ngày 19/6/1995, bị đơn lại điện cho nguyên đơn từ chối nhận lô hàng nêu trên với lý do là kẹo không bán được trên thị trường Hà Nội, số lượng kẹo đã sản xuất của bị đơn rất lớn, dây chuyền sản xuất kẹo ngừng hoạt động nên không thể nhập khẩu giấy gói kẹo nữa. Vì vậy, lô hàng của nguyên đơn vẫn nằm lại trong kho. Ngày 31/12/1996, nguyên đơn khởi kiện đòi bị đơn bồi thường thiệt hại gồm: 83.185 USD trị giá lô hàng đã được sản xuất xong chờ để giao nhưng bị từ chối nhận; 39.989 USD trị giá số nguyên liệu dự trữ trong kho nhằm thực hiện hợp đồng; 20.000 USD chi phí chung như chi phí pháp lý, chi phí cho mất thời gian.Sau khi nhận được đơn kiện, bị đơn kiện lại nguyên đơn về việc nguyên đơn giao hàng chậm đợt một và đợt hai. Thời hạn giao hàng đợt một chậm nhất ngày 22/8/1994 nhưng nguyên đơn đã không thực hiện đúng. Lô hàng cuối cùng của đợt một đến Hải Phòng ngày 9/11/1994, hơn nữa, hàng bị giao thiếu là 5.820 USD. Nguyên đơn giải thích rằng theo thoả thuận sau khi mở L/C mới cho sản xuất hàng nên xin cáo lỗi về sự chậm trễ và giao hàng thiếu. Thời hạn giao hàng đợt hai chậm nhất ngày 25/2/1995 nhưng mãi đến ngày 7/4/1995 hàng mới về đến Hải Phòng, đồng thời hàng bị giao thiếu trị giá 11.641 USD và giao không đồng bộ. Bị đơn đòi nguyên đơn bồi thường do hàng giao chậm gây thiệt hại cho sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, cụ thể là: Đợt một: 398.862.000 VND theo Biên bản xác định tổn thất được lập giữa bị đơn và XN sản xuất kẹo trực thuộc bị đơn. Đợt hai: 502.585.000 VND theo Biên bản xác định tổn thất được lập giữa bị đơn và XN sản xuất kẹo.

Phán quyết của trọng tài: 1. Về việc từ chối nhận hàng của bị đơn:

Để tiến hành mở L/C và giao hàng đợt ba, hai bên phải ký kết Annex 3. Tuy hai bên chưa ký Annex 3, nhưng bằng fax ngày 11/4/1995, nguyên đơn đã đề nghị giao lô hàng đợt ba và bằng telex ngày 17 /5/1995, bị đơn đã đồng ý mua lô hàng này và nhận hàng giao hai lần. Như vậy, có thể kết luận là giữa các bên đã có thoả thuận mua lô hàng thứ ba. Từ đó, bị đơn phải có nghĩa vụ mở L/C và nhận lô hàng này. Việc bị đơn từ chối nhận lô hàng đợt ba bằng telexlà vi phạm thoả thuận mua bán đợt ba giữa hai bên. Lý do mà bị đơn nêu ra để từ chối nhận hàng không được UBTT chấp nhận là căn cứ miễn trách nhiệm bởi vì kẹo không bán được trên thị trường Hà Nội, số lượng kẹo do bị đơn sản xuất ra còn rất lớn, dây chuyền sản xuất kẹo ngừng hoạt động không phải là trường hợp bất khả kháng và cũng không phải do lỗi của nguyên đơn gây nên. Từ đó, bị đơn phải có trách nhiệm bồi thườngcho nguyên đơn thiệt hại phát sinh.

(còn tiếp)

Vũ Ánh Dương