Hoạt động NK phế liệu, cụ thể ở đây là NK thép phế hiện chịu sự quy định của cả Luật BVMT và Luật Thương mại. Điều 3 NĐ 12/2006/NĐ-CP quy định: Trừ hàng hoá thuộc Danh mục cấm XK, tạm ngừng XK, hàng hoá thuộc Danh mục cấm NK, tạm ngừng NK, DN được XNK hàng hoá không phụ thuộc vào ngành nghề đăng ký kinh doanh. Điều 35, 42, 43 của Luật BVMT cũng đã quy định về trách nhiệm bảo vệ môi trường chung của các tổ chức, cá nhân và quy định cụ thể về bảo vệ môi trường trong NK hàng hoá nói chung, NK phế liệu nói riêng. Luật BVMT cũng nêu rõ, quyền NK phế liệu là quyền của cá nhân, tổ chức khi đáp ứng đủ các điều kiện kinh doanh được quy định tại khoản 2 điều 43. Đồng thời, luật này cũng không cấm DN NK hay uỷ thác NK phế liệu. Mặc dù Luật BVMT đã xác định các cơ quan hữu quan trong việc quản lý hoạt động XNK phế liệu nhưng cho đến nay vẫn chưa có hướng dẫn cụ thể. Đây là một khoảng trống pháp luật cần được giải quyết.
Bên cạnh đó, nói chung các luật hiện còn giao quá nhiều quyền cho các bộ, dẫn đến xung đột lợi ích và hạn chế quyền của các tổ chức, cá nhân khác. Theo tôi, Chính phủ là cơ quan phù hợp để đưa ra các quy định chung nhằm hài hoà hoá các lợi ích, phục vụ các mục tiêu tăng trưởng và phát triển bền vững. Điều này có nghĩa đối với mỗi nghị định hướng dẫn thi hành, cần cụ thể hoá từng điều khoản để ai cũng có thể hiểu rõ.
Mặt khác, chúng ta cũng cần xác định vai trò và ảnh hưởng của các quy định đối với điều kiện kinh tế, sản xuất kinh doanh. Xét về nhu cầu NK thép phế liệu, hàng năm, VN phải NK khoảng 800 - 900 nghìn tấn, phần lớn được thực hiện bởi các DN NK và DN sản xuất. Theo điều 42.2d Luật BVMT và Nghị định 12/2006 thì hoạt động NK các phương tiện giao thông vận tải đã qua sử dụng bị cấm. Như vậy, nếu không được phép NK thì các DN sản xuất sẽ gặp khó khăn do thiếu nguyên liệu và kéo theo đó, một ngành kinh doanh lâu năm sẽ bị xóa bỏ... Hơn thế, những quy định này đã vi phạm quyền tự do kinh doanh hợp pháp của các DN sản xuất, kinh doanh.
Tôi cũng phải khẳng định rằng việc xin ý kiến trong hoạt động lập pháp, lập quy ở VN hiện còn một số điểm không hợp lý. Các bộ, ngành khi soạn thảo thường mới chỉ trưng cầu ý kiến trên các trang web. Điều đó là không tôn trọng các đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của quy định. Và điều này cũng tạo những bất cập khi luật đi vào thực tiễn. Nên chăng, đối với những dự thảo văn bản liên quan đến quyền và nghĩa vụ của DN, các cơ quan soạn thảo lấy ý kiến cộng đồng DN thông qua VCCI, các hiệp hội... Như vậy mới đúng theo quy định tại Nghị định 161/2006/NĐ-CP.