- Nguyên đơn: Người mua Trung Quốc
- Bị đơn: Người bán Hồng Kông
Các vấn đề được đề cập: Mua hàng tại triển lãm. Giao thiếu hàng và bất cẩn trong việc đóng gói. Lắp đặt và sửa chữa máy.
Tóm tắt vụ việc:
Ngày 17/1/1985, nguyên đơn và bị đơn ký hợp đồng số 5009 theo đó bị đơn bán cho nguyên đơn một máy đóng gói với giá 80.000 USD. Máy này sẽ được chuyển đến Wuhan theo hai đợt giao hàng. Bộ phận chính của máy bán sau khi trưng bày triển lãm tại Wuhan và được giao vào tháng 2/1985. Đợt giao hàng thứ hai gồm các bộ phận phụ của máy sẽ được tiến hành vào ngày 15/4 /1985. Khi hợp đồng được ký kết, nguyên đơn đã phát hành thư tín dụng cho lần giao hàng đầu tiên trị giá 65.750 USD. Bị đơn đã giao hàng đúng thời hạn. Ngày 20/3/1985 Cục Giám định Hàng hoá Xuất nhập khẩu Hubei, Trung Quốc, cấp chứng nhận giám định theo đó thùng hàng thiếu một gương kiểm tra vật liệu và hai thước nén lá nhôm. Hai ổ cuốn hàn nóng bị han gỉ. Các bộ phận khác của máy cũng bị han gỉ một số phần. Trong thân máy có vài giọt nước. Bị đơn còn giao thiếu một số bộ phận của máy. Gỉ sắt và nước trong máy là do không cẩn thận khi đóng thùng máy sau triển lãm.
Ngày 28/3/1985, căn cứ vào chứng nhận giám định của Cục giám định hàng hoá XNK, nguyên đơn gửi văn thư cho bị đơn yêu cầu giao các bộ phận còn thiếu, đổi ống cuốn hàn nóng và bồi thường các thiệt hại về kinh tế. Sau đó bị đơn giao gương kiểm tra vật liệu và gửi các kỹ sư đến nhà máy là khách hàng của nguyên đơn để sửa chữa máy. Sau khi lắp đặt xong, do còn thiếu một số bộ phận nên chỉ một phần của máy là có thể hoạt động được. Do có khiếm khuyết tại hai bộ phận là A5 và A6 nên toàn bộ máy không thể hoạt động bình thường. Ngày 8/10/1985, sau khi tất cả các bộ phận đã được chuyển đến Wuhan, các bên đã ký một thoả thuận, theo đó bị đơn bảo đảm sẽ gửi kỹ sư đến nhà máy là khách hàng của nguyên đơn để lắp đặt, sửa chữa máy và đào tạo công nhân. 80% giá bán sẽ được thanh toán cho bị đơn sau khi đã trừ khoản tiền phạt do giao chậm và thiệt hại về kinh tế. Tuy nhiên, thoả thuận đã không được thực hiện.
Sau khi đã trao đổi giữa các bên, nguyên đơn trả 7.125 USD, 50% trị giá lô hàng thứ hai cho bị đơn ngày 24/2/1986. Từ 11- 23/4/1986, các kỹ sư của bị đơn đã đến nhà máy là khách hàng của nguyên đơn để sửa chữa lần thứ hai. Sau đó các bên ký một văn bản liên quan đến việc sửa chữa máy lần này, văn bản này ghi nhận rằng máy không thể hoạt động được do máy in, bộ phận chọn phế thải, ổ cuốn đồng bộ và nhiệt độ trước khi hoạt động không đạt tiêu chuẩn. Sau đó, nguyên đơn thường xuyên liên hệ với bị đơn nhưng không nhận được trả lời rõ ràng.
Ngày 15/11/1986, nguyên đơn khởi kiện ra trọng tài kiện bị đơn vi phạm hợp đồng do giao hàng lần thứ hai chậm, giao hàng thiếu, máy bị han gỉ cũng như trì hoãn trong việc sửa chữa máy làm cho máy không thể hoạt động được sau hai lần sửa chữa. Thực trạng của máy khiến cho nguyên đơn phải chịu tổn thất lớn về kinh tế. Do đó nguyên đơn yêu cầu trả lại máy và các bộ phận phụ của máy cho bị đơn và đòi bị đơn hoàn trả 72.785 USD và lãi ngân hàng, bồi thường cho nguyên đơn các thiệt hại do đóng thuế hải quan và thuế công thương hỗn hợp. Ngoài ra nguyên đơn đòi bị đơn phải chịu trách nhiệm do vi phạm hợp đồng và bồi thường các thiệt hại và tổnthất kinh tế khác mà nguyên đơn phải gánh chịu.
(Còn tiếp)
Vũ Ánh Dương