• Nguyên đơn: Văn phòng đại diện của Cty A (người bán)
  • Bị đơn: Hai DN Việt Nam (DN C và DN D)

Các vấn đề được đề cập: Nghĩa vụ trả tiền hàng trong hợp đồng nhập khẩu có liên quan đến uỷ thác nhập khẩu

Xác định căn cứ khởi kiện.

Tóm tắt vụ việc:

Cty A nước ngoài ký hợp đồng xuất khẩu hàng cho DN C VN, thanh toán sau khi bán được hàng thu được tiền tại VN. DN C VN nhập uỷ thác hàng đó cho DN D VN. Hợp đồng quy định tiền thu được từ việc bán hàng cho khách hàng nội địa sẽ được sử dụng để thanh toán tiền hàng cho người bán. Trên thực tế, DN C và D đã bán gần hết số lượng hàng nhập khẩu mà vẫn không thanh toán tiền cho Cty A. Văn phòng đại diện của Cty A đặt tại VN, DN C và DN D VN ký Biên bản thoả thuận ba bên với nội dung sau: Số tiền đã thu được sau khi bán hàng, DN C và DN D VN phải trả cho Cty A 10 lần trong vòng 10 tháng, mỗi tháng 35.466,00 USD bắt đầu từ tháng 1 đến tháng 10/ 1998. Số tiền hàng bán chịu sau khi thu hồi được từ khách hàng địa phương thì DN C và D Việt Nam phải chuyển trả ngay lập tức cho Cty A. Trong trường hợp có vi phạm đối với biên bản này, các bên có quyền kiện ra trọng tài VN. Sau đó, do DN C và DN D tiếp tục không tuân thủ các nội dung của Biên bản ba bên. Văn phòng đại diện của Cty A đã khởi kiện ra Trọng tài VN trên cơ sở Biên bản ba bên ngày 4/12/1997 đòi DN C và DN D trả toàn bộ tiền hàng là 434.604,00 USD.

DN C giải trình như sau:

DN D là đơn vị chịu trách nhiệm trực tiếp và chủ yếu về các khoản nợ với Cty A, còn DN C chỉ là nhà nhập khẩu, giúp làm thủ tục thanh toán đối ngoại. Cty A đã tham gia trực tiếp bán hàng trong nội địa VN cùng với DN D, DN C không tham gia bán hàng nên chỉ chịu trách nhiệm giới hạn trong vai trò của một nhà nhập khẩu uỷ thác. Trong số tiền đòi nợ Cty A chưa trừ đi số tiền hàng đã bán nhưng chưa thu được là 47.368,00 USD và trị giá hàng tồn kho là 32.576,00 USD. DN D lập luận: Giám đốc DN D bị khởi tố với tội danh lừa đảo chiếm đoạt tài sản xã hội chủ nghĩa đã bỏ trốn, tài sản của DN D đã bị cơ quan có thẩm quyền kê biên nên đề nghị Trọng tài tạm hoãn giải quyết vụ kiện. Nếu dựa vào Hợp đồng uỷ thác nhập khẩu với DN C thì DN D nhận thấy không có căn cứ điểm giám đốc nhân danh DN D ký Biên bản thoả thuận ba bên ngày 4/12/1997. Trưởng văn phòng đại diện của Cty A đã xuất trình cho Trọng tài Giấy uỷ quyền của Cty A, uỷ quyền cho ông giải quyết mọi vấn đề và yêu cầu Trọng tài điều chấp nhận thẩm quyền của ông tại phiên họp.

Phán quyết của Trọng tài:

Nghĩa vụ trả tiền hàng cho người xuất khẩu: Trên thực tế, DN VN D muốn nhập hàng của Cty A để bán trên thị trường VN, nhưng DN D khi đó không có quyền xuất nhập khẩu trực tiếp, cho nên đã uỷ thác nhập khẩu cho DNC. DN C đã ký hợp đồng nhập khẩu với Cty A. Hàng về VN, DN C đã nhận hàng và giao hàng đó cho DN D. Như vậy, Cty A đã thực hiện xong nghĩa vụ giao hàng cho nên có quyền đòi DN C trả tiền hàng. DN C là người trực tiếp ký hợp đồng nhập khẩu với Cty A nên phải có nghĩa vụ thanh toán tiền hàng cho Cty A. Còn DN D là người ký hợp đồng uỷ thác nhập khẩu với DN C thì DN D phải trả tiền hàng cho DN C. DN D không có nghĩa vụ thanh toán tiền hàng trực tiếp cho Cty A nước ngoài, trừ khi có thoả thuận hợp pháp khác.

Nguyễn Thu Trang