Thứ Ba, 29/08/2006 - 05:48

Tồn tại lớn nhất là... đất!

Cổ phần hóa (CPH) DN nhà nước (DNNN) đã đi được chặng đường gần 15 năm. Thời gian không phải là ngắn nhưng chúng ta cũng đã tiến hành CPH được 3.365 DN, huy động được trên 22.000 tỷ đồng vốn nhàn rỗi trong xã hội đầu tư vào sản xuất kinh doanh; tạo cho thị trường chứng khoán thêm 49 DNNN sau cổ phần lên sàn giao dịch, với số vốn niêm yết lên tới gần 10.000 tỷ đồng… CPH đã góp phần đổi mới mạnh mẽ cơ cấu khu vực DNNN. Tuy nhiên…

Giai đoạn sau CPH mới là chiều dài cuộc đời của các DN CPH. Nó đan xen giữa bề nổi đã nhìn thấy một phần và phần chìm còn ẩn chứa nhiều vấn đề cần được làm rõ.

Những phát sinh từ chuyện đất

Các DN sau CPH có đặc điểm của cả DNNN và DN khu vực tư nhân. Điều đó chứng tỏ, mặc dù đã có những cải thiện đáng kể so với mô hình DNNN nhưng các DN sau CPH vẫn chưa kịp thích nghi với mô hình tổ chức mới, chưa thoát hẳn phương thức hoạt động của DNNN vốn đã ăn sâu vào nhận thức của cán bộ quản lý và người lao động. Sở dĩ có đặc điểm này là do vẫn còn những chính sách ưu đãi kéo dài với DN sau CPH, do sự lẫn lộn giữa khai niệm DNNN với Cty nhà nước hay giữa DNNN với Cty cổ phần do nhà nước chi phối. Đây là những đặc điểm chi phối và làm phát sinh nhiều vấn đề kéo dài sau CPH.

Đất đai và quyền sở hữu tài sản cũng là những nội dung được DN CPH quan tâm nhất, trong đó đặc biệt là đất đai. Theo kết quả điều tra chỉ có khoảng 38% DN có quyền sử dụng đất với các quyền và lợi ích rõ ràng. Sự thiếu rõ ràng và giải quyết chưa dứt điểm về quyền sử dụng đất, quyền và nghĩa vụ có liên quan trước khi đăng ký dưới hình thức Cty cổ phần, khiến DN gặp nhiều khó khăn trong bố trí kế hoạch hoạt động kinh doanh, xây dựng cơ sở hạ tầng.

Tình trạng không tính giá trị quyền sử dụng đất vào giá trị DN khi CPH vẫn là phổ biến. Mặc dù, DN được tiếp tục thuê đất, được giao đất theo quy định của Nhà nước thấp hơn nhiều so với giá thị trường. Nhưng do không tính giá trị sử dụng đất vào giá trị DN nên DN đã gặp khó khăn trong quan hệ với ngân hàng hoặc khi muốn mở rộng sản xuất kinh doanh.

Một loại khó khăn khác liên quan đến quyền sử dụng đất của các DN hình thành từ CPH bộ phận của Cty nhà nước hoặc bộ phận của đơn vị thành viên của TCty khi đất thuộc quyền của Cty mẹ, TCty đứng tên thuê. Trong một số trường hợp những DN CPH này không có quyền sử dụng đất, không được đứng tên thuê đất hoặc giao đất phải nhờ TCty đứng ra dùng quyền sử dụng đất để vay vốn hộ mình. Ngược lại, cũng có trường hợp Cty mẹ hoặc TCty đã dùng đất của đơn vị thành viên được CPH đang sử dụng để thế chấp vay vốn để phục vụ mục đích kinh doanh của Cty mẹ, TCty.

Thực tế còn có nguy cơ biến CPH DN thành CPH bất động sản, đặc biệt ở các trung tâm kinh tế lớn nếu việc tính giá trị quyền sử dụng đất vào giá trị DN không đúng, hoặc giá trị quyền sử dụng đất bị đánh giá quá thấp. Điều đó kéo theo hệ luỵ sang giai đoạn hậu CPH là tranh chấp, chuyển nhượng, mua gom, khống chế cổ phần, thâu tóm và kiểm soát Cty vì giá trị đất đai.

Quản trị DN sau CPH

Các DN CPH có cái nhìn vừa tích cực, vừa e ngại về môi trường thể chế các chính sách sau CPH. Các quy định của Luật DN và văn bản có liên quan ảnh hưởng tích cực đến môi trường kinh doanh và triển vọng của DN sau CPH. Tuy nhiên, các yếu tố bị đánh giá là gây cản trở nhiều, ảnh hưởng không tốt đến quản trị DN là các chính sách về đất đai, tín dụng...

Về vấn đề quyền được cung cấp thông tin. Dường như các cổ đông của DN CPH không gặp khó khăn lắm để có được những thông tin tối thiểu về tình hình sản xuất kinh doanh của DN. Nhiều DN có quy mô cổ đông không lớn nên có điều kiện để tổ chức đại hội toàn thể các cổ đông. Tuy nhiên, vấn đề lại ở chỗ cổ đông chỉ nhận được một số thông tin sơ lược trong báo cáo tài chính trình bày trước đại hội cổ đông hàng năm. Do không được cung cấp thông tin chi tiết, nên các cổ đông nhỏ không hiểu được thực chất Cty, cảm thấy bị “đứng ngoài”, thậm chí một số người lao động coi DN CPH là "người vay" và họ chỉ là người cho vay vốn. Tại nhiều Cty cổ đông phàn nàn về việc quy định quá cao tỷ lệ % cổ phần có quyền cử đại diện dự họp đại hội cổ đông, dẫn đến mất quyền của các cổ đông thiểu số.

Trước bối cảnh và yêu cầu hội nhập đang tạo áp lực mạnh mẽ đối với việc CPH nói riêng và chuyển đổi DNNN nói chung, càng đòi hỏi chúng ta phải chuyển đổi cơ chế quản lý DN một cách mạnh mẽ hơn, quyết liệt hơn, minh bạch hơn. Qua đó, chúng ta sẽ làm rõ những vướng mắc xuất hiện trong các DN sau CPH, chỉ rõ những nguyên nhân của những vướng mắc để đề ra những biện pháp tháo gỡ.

Về công khai và minh bạch hoá, theo quy định hiện hành tất cả các DN sau CPH đều phải thực hiện chế độ báo cáo và minh bạch hoá. Vấn đề được rất nhiều người quan tâm là công tác kiểm toán của DN sau CPH để hiện thực hoá yêu cầu công khai và minh bạch như luật định. Nhưng theo kết quả điều tra, chỉ có 27,5% DN thực hiện kiểm toán hàng năm và 18,7% kiểm toán theo yêu cầu của vụ việc, còn lại là không có.

Vẫn còn một bộ phận không nhỏ các cổ đông chưa nhận thức được đúng đắn các quyền, lợi ích và nghĩa vụ của mình đối với DN. Thực tế hiện nay có hai thái cực. Một số cổ đông không nắm rõ các quy định pháp lý về quyền hạn của cổ đông, của các cơ quan như hội đồng quản trị, ban kiểm soát, các trình tự tổ chức đại hội... dẫn đến cổ đông lạm quyền và can thiệp quá sâu và công tác quản lý, điều hành Cty, gây nên những vụ xung đột nội bộ. Nhưng ngược lại cũng có một bộ phận không nhỏ cổ đông quá e dè, không sử dụng hết các quyền hạn chính đáng của mình dẫn đến hậu quả là đại hội cổ đông trở thành "hội nghị tổng kết". Còn bản thân các cổ đông từ vị trí "nhà đầu tư" đã trở thành "người gửi tiền tiết kiệm".

Ngoài ra còn có một thực tế, không ít Cty sau CPH chưa tổ chức, hoạt động đúng với quy định pháp luật và điều lệ của Cty. Cũng có nhiều nơi sử dụng đúng luật nhưng chưa hiệu quả. Số liệu điều tra cho thấy đại đa số DN CPH (khoảng 70%) chủ tịch HĐQT kiêm giám đốc Cty. Việc kiêm nhiệm này không trái với quy định của pháp luật nhưng mang nhược điểm là chưa tách bạch giữa quản lý và điều hành. Điều này dẫn đến sự hạn chế áp dụng cơ chế quản lý hiện đại với sự kiểm tra, giám sát có hiệu quả đối với bộ máy điều hành DN.

Ngoài hai nội dung trên cũng còn khá nhiều tồn tại ẩn chứa trong nhiều lĩnh vực khác như vấn đề lao động trong DN sau CPH, vấn đề chuyển nhượng cổ phần của người lao động, vấn đề liên quan đến cổ phần nhà nước...

Nút thắt của TCty, tập đoàn kinh tế nhà nước. Theo tôi, cần tập trung làm rõ chủ quản trong 101 TCty, kể cả tập đoàn là chính. Theo đó cần xác định đại diện chủ sở hữu trực tiếp tại các tập đoàn, TCty có phải là chủ thật sự của DN chưa? Bộ quản thì có hơn được họ tự quản không. Hay là lại làm cái "bình phong" để rồi khi quy trách nhiệm những thiếu sót xảy ra "chung cả làng" . Không ít lãnh đạo các TCty đang lo sợ cơ chế còn nhiều lúng túng hiện nay nên cũng muốn tìm cách đẩy lên trên ký hộ theo đề nghị của mình, thà chậm một chút nhưng an toàn. Nhiều người thì khó chịu bởi sự hành hạ của các vụ tham mưu (đâu có phải chủ tịch HĐQT được làm việc ngay với lãnh đạo bộ kể cả những người do Thủ tướng bổ nhiệm) nhưng cũng khó làm khác được. Đây cũng là những nút thắt cần được tháo gỡ ngay theo hướng giao quyền trực tiếp cho HĐQT - người đại diện trực tiếp chủ sở hữu tại DN.(Ông Hồ Xuân Hùng - Phó Trưởng Ban Đổi mới và phát triển DNNN Trung ương).

Nhân rộng bán đấu giá DN qua TCCK. CPH là sự chuyển đổi DNNN từ một chủ sử hữu sang thành nhiều chủ sở hữu, sự chuyển đổi này muốn thu hút được các nhà đầu tư cần tôn trọng các nguyên tắc của cơ chế thị trường, đó là mua bán cần trao đổi ngang giá, trên cơ sở thoả thuận, thay vì định giá DN bằng các hội đồng, bằng các tổ chức chuyên nghiệp. Đánh giá giá trị DN chính xác, công khai, minh bạch vừa là điều kiện tránh thất thoát tài sản của Nhà nước vừa khuyến khích nhà đầu tư mua cổ phiếu vì họ có cơ sở đánh giá khoản đầu tư của mình. Kết quả của hình thức bán đấu giá DN công khai qua thị trường chứng khoán thời gian qua cho thấy đây là cách làm cần được nhân rộng. Đây là hình thức đánh giá giá trị DN khách quan và rất hiệu quả. (TS Nguyễn Thị Hoài Lê - Học viện Tài chính).

Hạn chế trong định giá DN. Nếu định giá giá trị DN không sát, sẽ dẫn đến thiệt hại cho Bảo Việt nói riêng và Nhà nước nói chung. Một thí dụ điển hình được giới đầu tư trong và ngoài nước đã biết đến là khi CPH Vinamilk. DN này chỉ có giá trị 100 triệu USD, nhưng khi lên sàn thì giá trị vốn hoá 700 triệu USD. Tương tự, khi Ngân hàng thương mại cổ phần VPBank quyết định bán 10% cổ phần cho Ngân hàng Singapore OCBC, đã được Ngân hàng OCBC mua với giá trị gấp 4,5 lần mệnh giá gốc. Thực tế của Vinamilk và VPBank cho thấy, việc xác định giá trị DN của Việt Nam vẫn còn thiếu kinh nghiệm, dẫn tới không ít DN và nhà đầu tư phải trả giá. Đây là bài học thận trọng đối với Bảo Việt, song cũng vẫn lại là khó khăn không nhỏ đối với Cty tư vấn định giá trị của TCty Bảo hiểm Việt Nam. (TS Phí Ngọc Thảo - TCty Bảo hiểm VN).

Vướng của Cty TNHH 100% vốn nhà nước. Các DN 100% vốn nhà nước vẫn không có chủ sở hữu đích thực, cụ thể. Vì thế lợi ích và trách nhiệm của chủ sở hữu vẫn thiếu gắn bó máu thịt theo kiểu "lời ăn lỗ chịu" như chủ sở hữu đích thực đối với kết quả hoạt động kinh doanh của DN. Vì lợi ích cá nhân hay tổ chức được phân công chủ sở hữu DN khó có thể có các quyết định hướng tới tối ưu, thậm chí trong nhiều trường hợp có thể lợi dụng địa vị pháp lý của mình để đưa ra những quyết định gây thiệt hại đến hiệu quả kinh doanh của DN. Ngoài ra, chưa có cơ chế giám sát chủ sở hữu. Chưa có cơ chế giám sát bộ máy quản lý DN (HĐQT và giám đốc) để tránh các trường hợp xảy ra như thất thoát, lãng phí, tiêu cực… Chưa có cơ chế tuyển dụng TGđ như là một nghề. Đồng thời chưa có cơ sở để xác định trách nhiệm của người quản lý điều hành Cty khi đầu tư không có hiệu quả, kinh doanh thua lỗ, mất vốn, không chấp hành các chế độ báo cáo tài chính thống kê. (PGS TS Thái Bá Cẩm - đại học Kinh doanh và Công nghệ).

search