Về việc xuất hàng tạm ứng cho Cty Y:
Bị đơn không cung cấp được bằng chứng về yêu cầu của Công ty X bán phần hàng trị giá287.320.000 VND cho Cty Y. Do đó, Uỷ ban Trọng tài (UBTT) bác bỏ lập luận liên quan đến vấn đề này của bị đơn; bác bỏ đề nghị của bị đơn yêu cầu UBTT phải điều tra Cty Y đã nhận hàng xuất tạm ứng. UBTT cho rằng vì Cty Y không phải là một bên ký kết hai hợp đồng nêu trên, nên việc điều tra những gì liên quan đến Cty này không thuộc thẩm quyền của UBTT, bị đơn phải khởi kiện Y trước cơ quan có thẩm quyền theo quy định của pháp luật.
Về các khoản tiền bồi thường khác do nguyên đơn nêu ra:
Về khoản tiền lãi phải trả trên số tiền hàng chưa thanh toán: Yêu cầu thanh toán tiền lãi trên số tiền 39.842,92 USD là số tiền bị đơn phải thanh toán cho nguyên đơn là hợp pháp. Cách thức tính tiền lãi mà nguyên đơn đưa ra căn cứ vào Điều 233 Luật Thương mại VN 1997,â các quy định của Quyết định số 39/1998/QĐ-NHNN ngày 17/1/1998 của NH Nhà nước VN được UBTT chấp nhận. Nếu chỉ căn cứ vào hai hợp đồng nói trên thì người mua - bị đơn bị coi là vi phạm Hợp đồng thứ nhất kể từ khi đã hết thời hạn 10 ngày sau khi nhận được vận đơn gốc,từ ngày 24/3/1999, ngày cuối cùng bị đơn phải thanh toán cho nguyên đơn. Đối với Hợp đồng thứ hai bị đơn bị coi là vi phạm hợp đồng kể từ ngày 7/4/1999. Tuy nhiên, trong văn thư nguyên đơn gửi cho bị đơn, sau khi nhắc nhở nghĩa vụ trả tiền đối với bị đơn, nguyên đơn đã gia hạn thời gian thanh toán cho bị đơn thêm 15 ngày, kể từ ngày 1 /12/1999, tức là gia hạn thanh toán đến hết ngày 15/12/1999. Việc làm này thể hiện thiện chí của nguyên đơn tự nguyện cho gia hạn thêm một thời gian hợp lý để bị đơn thực hiện nghĩa vụ của mình. Do đó, thời hạn chậm thực hiện nghĩa vụ thanh toán của bị đơn sẽ được tính chung cho cả hai hợp đồng đã được ký kết, tức là từ ngày 16/12/1999. Trên cơ sở đó, UBTT tính lại khoản tiền lãi mà bị đơn phải trả trên số tiền hàng chưa thanh toán là (39.842,92 USD x 11,7% x 432) : 360 = 5.593,94 USD đối với cả hai hợp đồng. Về số tiền 5.000 USD là các chi phí phải trả cho việc thuê tư vấn pháp lý: nguyên đơn không có các bằng chứng hợp lệ để chứng minh khoản thù lao cho luật sư, cũng như về khoản 400 USD chi cho phí liên lạc và 5000 USD cho phí dịch thuật mà nguyên đơn đòi. Do đó UBTT bác yêu cầu đòi các khoản chi phí này của nguyên đơn. Bị đơn phải trả phí trọng tài 1.246 USD.
Bình luận và lưu ý:
Trong tố tụng trọng tài, đối với bất kỳ khiếu kiện nào liên quan đến một khoản nợ, bên yêu cầu cần có đầy đủ chứng cứ chứng minh cho khoản nợ đó. Trong vụ việc này, bị đơn đã trình bày về phần hàng khuyến mãi với trị giá lớn nhưng lại không đưa ra được bất kỳ chứng cứ hợp pháp nào làm căn cứ cho yêu cầu của mình. Nguyên đơn cũng không chứng minh được các phí liên quan đến hoạt động tư vấn pháp lý, dịch thuật và liên lạc mà nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải bồi thường. Đối với những yêu cầu như vậy, chắc chắn UBTT sẽ không có cách lựa chọn nào khác là từ chối.
Trong một vụ việc, UBTT chỉ giải quyết và xem xét các vấn đề có liên quan trực tiếp đến vấn đề tranh chấp. Vì vậy, không nên đưa ra các yêu cầu đối với hoặc có liên quan đến một bên thứ ba không có quan hệ trực tiếp đến giao dịch bị tranh chấp. Có một số trường hợp UBTT buộc phải xem xét đến một giao dịch khác có liên quan trực tiếp đến giao dịch đang bị tranh chấp (Ví dụ: hợp đồng bán lại, hợp đồng mua bán sản phẩm được sản xuất từ các hàng hoá là đối tượng của giao dịch đang bị tranh chấp). Tuy nhiên, đối với vụ việc này, giao dịch thiết lập giữa bị đơn (và có thể cả Công ty X) với Công ty Y không được coi là có mối quan hệ hữu cơ với giao dịch bị tranh chấp nên UBTT từ chối không xem xét.
Vũ Ánh Dương