Chuyên gia hàng đầu về năng lượng của Mỹ Daniel Yergin, người được mệnh danh là “Ông hoàng năng lượng” đã có cuộc trò chuyện về sự lo ngại của quốc tế trước khả năng xảy ra một cuộc khủng hoảng năng lượng toàn cầu, về vị thế ngày càng tăng của các quốc gia có dầu mỏ và về sự rủi ro khi dầu mỏ trở nên khan hiếm.

- Thưa ông Yergin, trong khi Venezuelavà Bolivia đã quốc hữu hóa công nghiệp dầu mỏ, còn Iran thì dọa sẽ dùng vũ khí dàu mỏ, châu Âu đang phải lệ thuộc vào khí đốt của Nga. Vậy nguồn cung dầu mỏ cho thế giới được đảm bảo đến mức độ nào?

Giá dầu đang phi nước đại trong khi chúng ta lại phải chứng kiến sự hồi sinh của chủ nghĩa quốc gia - nguyên liệu như hồi những năm 70. Các thế lực đã vượt ra khỏi sự cân bằng và các quốc gia xuất khẩu dầu mỏ hiện đang có vị thế mạnh hơn nhiều.

- Thưa ông, liệu Venezuelahay Nga có thể tự tin trên vũ đài thế giới nếu giá dầu chỉ ở mức 20 USD?

Tôi cho rằng không có điều này, tầm quan trọng của họ đã từng là đáng kể. Cách đây không lâu, ngành công nghiệp dầu mỏ còn bị coi là một nền kinh tế cũ. Vì thế, Chính phủ các nước đều tìm cách tư nhân hóa các doanh nghiệp dầu mỏ của nhà nước và cố mồi chài tư bản. Họ cần tiền và công nghệ. Tuy nhiên, ngày nay mọi sự đều đảo ngược, các nhà sản xuất đang nắm át chủ bài.

- Vậy hậu quả của việc thay đổi qua hệ quyền lực này sẽ như thế nào, thưa ông?

Để hiểu rõ vấn đề này, chúng ta phải nhìn vào những định hướng đặc biệt của các vị lãnh đạo. Đơn giản vì chúng ta đang sống trong một thế giới khác trước. Điều nay có thể quan sát thấy trong các mối quan hệ quốc tế. Ví dụ, sau khi chủ tịch Trung Quốc Hồ Cẩm Đào thăm Washington, ông đã sang thẳng Arập Xêut. Và chuyến thăm nước ngoài đầu tiên của Quốc vương Abullah (Arập Xêut) lại là Bắc Kinh.

- Dường như trong chính sách đối ngoại của mình, Trung Quốc đặc biệt chú ý đến việc thỏa mãn nhu cầu về năng lượng. Vậy có hay không khả năng xảy ra một cuộc xung đột giữa Trung Quốc với Mỹ?

Theo tôi thì tình hình không đến mức tồi tệ như vậy. Vì người Trung Quốc là những “tay chơi’ mới trong nền kinh tế thế giới, họ rất cần nguyên liệu. Điều đáng lo ngại là trường hợp họ chỉ tích lũy hàng trăm tỷ USD tại Ngân hàng trung ương mà không đầu từ vào khai thác dầu để tham gia cung cấp cho thế giới.

-  Cơn đói dầu của Trung Quốc đang làm cho “cuộc chiến” trên  thị trường năng lượng trở nên gay gắt hơn bao giờ hết. Vậy các nhà cung cấp làm sao có thể đáp ứng nhu cầu đang ngày càng tăng này, thưa ông?

Thực tế cho thấy, cơn sốc về nhu cầu dầu mỏ đã tạm lắng. Năm 2004, tiêu thụ dầu của Trung Quốc đã tăng đầy ấn tượng, lên đến 16%. Nhưng, giờ bên cung lại tỏ ra đuối sức trên đấu trường. Mà bằng chứng là Trung Quốc đang phải qua cơn sốc vì thiếu hụt 2 triệu thùng dầu mỏ mỗi ngày. Nguyên nhân của tình trạng này là do sự mất ổn định ở Nigiênia cùng với sự giảm sút sản lượng khai thác do bão tố ở vịnh Mehicô, do cuộc chiến tranh Irắc năm 2003 và do sản lượng khai thác ở  Venezuela  suy giảm từ năm 2002.

- Theo ông, sự khan hiếm hiện nay chỉ là một vấn đề về công suất hay là một vấn đề về địa chất? Có một số chuyên gia cho rằng, việc khai thác dầu mỏ toàn cầu đã lên đến đỉnh điểm và hiện nay tụt xuống tương đối nhanh.

Điều này có căn nguyên. Sau năm 1880, đã có lo ngại tương tự, rồi sau đó là cuối Chiến tranh thế giới thứ nhất, thứ hai cũng như và những năm 70. Con người thường coi nhẹ sự tác động của công nghệ. Trong những năm 70, người ta chỉ mới xuống được độ sâu 200 mét khi khai thác ngoài biển, nay đã khan đến dọ sâu 4000 mét.

- Nhưng ngay cả những công nghệ tốn kém nhất cũng không thể ngăn chặn sản lượng đi xuống, thí dụ như ở vùng  Biển Bắc?.

Đến cuối những năm 80, người ta từng cho rằng, Biển Bắc đã cạn dầu, sau đó  lại nói đến vấn đề này và cuối những năm 90. Nhưng ngày nay, các cơ sở khai thác ở đó vẫn tiếp tục họat động. Không ai nói nguồn dầu mỏ là vô tận nhưng cạn kiệt hay khong thì điều đó phụ thuộc vào chính chúng ta.

-Thưa ông, phải chăng viêc tìm kiếm, phát hiện các mỏ dầu mới ngày càng khó khăn và tốn kém hơn đói với các doanh nghiệp dầu mỏ?

Đúng thế, và lý do làm cho chúng ta ngại là chi phí cho các dự án ở ngoài khơi đã tăng 68% tình từ năm 2000. Ngoài ra, còn có một khó khăn nữa, đó vẫn là đề nhân sự. Trong những năm tới, nguồn cung dầu sẽ tăng lên, nhưng sau năm 2010, thì các vùng có dầu chỉ còn tập trung ở một số nước ít ỏi.

- Vậy theo ông các nước công nghiệp có thể làm gì để bảo đảm an toàn năng lượng?

Việc đầu tiên chúng ta phải làm là tìm ra một tiếng nói chung về an ninh năng lượng. Và khái niệm này khách nhau với mỗi nước. Nếu như với Châu Âu, chủ yếu là thoát khỏi sự lệ thuộc vào khí đốt. Thì với Mỹ thì đây là một vấn đề địa chính trị.

- Để làm được điều đó, theo ông, chúng ta cần những yếu tố gì?

Trước tiên, chúng ta phải tăng cường đầu tư cho công nghệ mới. Một điều rất đặc biệt là hiện nay người ta hết sức chú trọng nghiên cứu ethanol. Khoảng 4 năm nữa, nước Mỹ có thể dùng ethanol thay thế cho 10% nhiên liệu, điều này có thể ví như ta có thêm một quốc gia có dầu mỏ cùng cỡ như Inđônexia. Tuy nhiên, như thế vẫn chưa đủ để bảo đảm an ninh năng lượng, cần phải tạo ra một hệ thống cung cấp với một vùng đệm để chống sốc.

- Hiện nay, vấn đề cung cấp dầu khí là một vấn đề thuộc lĩnh vực ngoại giao chứ không phải về đề thương mại?

Sống trong một thế giới mà sự lệ thuộc vào nhau ngày càng lớn như hiện nay thì an ninh năng lượng phụ thuộc rất nhiều giữa các quốc gia.Vì vậy, trong những năm tới đây, an ninh năng lượng sẽ là một trong những thách thức quan trong trọng nhất trong chính sách đối ngoại. Bởi hiện nay, dầu khí đã vươn tới giá trị chính trị mới-giá trị của thời đại mới.

 - Xin cảm ơn ông!

Hương Giang (Theo tạp chí Spiegel)