Công ước đã có hiệu lực tại Việt Nam từ ngày 26/10/2004. Công ước Berne đã đặt ra ba nguyên tắc cơ bản:

- Nguyên tắc đối xử quốc gia là nguyên tắc bảo trợ tác phẩm có nguồn gốc từ các quốc gia thành viên của Công ước, tương tự như bảo hộ tác phẩm của công dân chính quốc gia mình.

- Nguyên tắc đương nhiên bảo hộ là sự bảo hộ không lệ thuộc vào bất kỳ thủ tục hình thức nào như là thủ tục đăng ký, nộp lưu chiểu hoặc các thủ tục tương tự.

- Nguyên tắc độc lập bảo hộ việc hưởng và thực thi các quyền được đề cập theo công ước là độc lập với những gì hiện được hưởng tại nước xuất xứ của tác phẩm.

Thuật ngữ "Các tác phẩm văn học và nghệ thuật" sử dụng trong Công ước bao gồm tất cả các sản phẩm trong lĩnh vực văn học, khoa học và nghệ thuật, bất kỳ được biểu hiện theo phương thức hay dưới hình thức nào. Chẳng hạn như sách, sách pample và các bài viết khác, các bài giảng, bài phát biểu, bài thuyết giáo và các tác phẩm khác cùng chủng loại; các tác phẩm kịch, hay nhạc kịch, các tác phẩm hoạt cảnh và kịch câm, các bản nhạc có lời hay không lời, các tác phẩm điện ảnh, trong đó có các tác phẩm tương đồng được thể hiện bằng một quy trình tương tự quy trình điện ảnh, các tác phẩm đồ họa, hội họa, kiến trúc, điêu khắc, bản khắc, thạch bản... Tuy nhiên, luật pháp quốc gia thành viên của Liên hiệp có thẩm quyền quyết định không bảo hộ các tác phẩm nói chung hoặc một số thể loại cụ thể nào đó, trừ phi các tác phẩm ấy đã được ấn định bằng một hình thái vật chất.

Về các quyền được bảo hộ, tùy thuộc vào các giới hạn, hạn chế và ngoại lệ cụ thể được phép, các quyền sau đây phải được công nhận là các quyền độc quyền cho phép: Quyền dịch thuật, quyền thực hiện phóng tác và chuyển thể tác phẩm, quyền trình diễn công cộng tác phẩm kịch, nhạc kịch và âm nhạc; quyền trần thuật công cộng tác phẩm văn học; quyền truyền thông công cộng trình diễn các tác phẩm; quyền phát sóng (với khả năng là quốc gia thành viên chỉ quy định quyền trả thù lao phù hợp thay vì quyền cho phép), quyền làm bản sao bằng bất kỳ cách thức hoặc hình thức nào (với khả năng là các trường hợp đặc biệt cụ thể, cho phép làm bản sao mà không có sự cho phép với điều kiện là việc làm bản sao đó không phạm tới sự khai thác bình thường tác phẩm và không phương hại bất hợp lý đến các lợi ích hợp pháp của tác giả, và với khả năng là các quốc gia thành viên quy định, đối với các bản ghi âm tác phẩm âm nhạc, quyền nhận thù lao thỏa đáng; quyền cho sử dụng tác phẩm làm nền của tác phẩm nghe nhìn, và quyền làm bản sao, phân phối và trình diễn công cộng hoặc truyền thông tới công chúng tác phẩm nghe nhìn đó; các quyền tinh thần gồm: Quyền đứng tên tác giả của tác phẩm và quyền phản đối bất kỳ sự cắt xén, bóp méo hoặc sửa đổi khác tác phẩm, hoặc các hành vi xúc phạm khác liên quan tới tác phẩm mà có thể phương hại đến danh dự và uy tín của tác giả.

Và thời hạn bảo hộ (Điều 7 Công ước) quy định nguyên tắc chung là bảo hộ cả cuộc đời của tác giả và 50 năm sau khi tác giả chết. Tuy nhiên, có những ngoại lệ, như đối với các tác phẩm điện ảnh, thời hạn bảo hộ là 50 năm tính từ khi tác phẩm được công bố hoặc từ khi tác phẩm được sáng tác nếu tác phẩm chưa được công bố. Đối với các tác phẩm mỹ thuật ứng dụng và các tác phẩm nhiếp ảnh, thời hạn bảo hộ tối thiểu là 25 năm kể từ khi tác phẩm được sáng tạo. Đối với các quốc gia được coi là nước đang phát triển được miễn khỏi các tiêu chuẩn bảo hộ tối thiểu này đối với quyền dịch thuật và quyền làm bản sao.

Công ước dành quyền rộng rãi cho các nước thành viên riêng biệt miễn là các quyền được bảo hộ ở các nước riêng biệt không trái ngược với các quyền được bảo hộ theo Công ước, cũng như các nước thành viên có thể ký kết với nhau những thỏa hiệp riêng nhằm mang lại cho tác giả nhiều quyền hơn so với Công ước nhưng không được trái ngược với Công ước. Ngoài ra, Công ước còn có các quy định "những điều khoản đặc biệt giành cho các nước đang phát triển".

P.V