Bộ Tài chính đã có văn bản gửi các cơ quan chức năng lấy ý kiến về Dự thảo Nghị định quy định chi tiết một số điều của Luật thuế TNDN. Dự thảo Nghị định dự kiến được trình Chính phủ xem xét vào phiên họp tháng 9-10/2008.
Theo dự thảo, người nộp thuế bao gồm: DN thuộc các thành phần kinh tế; Đơn vị sự nghiệp có sản xuất kinh doanh hàng hoá, dịch vụ hoặc có thu nhập trong tất các lĩnh vực; Các tổ chức được thành lập và hoạt động theo Luật hợp tác xã bao gồm liên minh hợp tác xã, hợp tác xã, tổ hợp tác...
Thu nhập chịu thuế được quy định cụ thể: Thu nhập từ chuyển nhượng vốn là thu nhập từ chuyển nhượng một phần hoặc toàn bộ số vốn trong Cty cổ phần, Cty trách nhiệm hữu hạn, Cty hợp danh, DN liên doanh, hợp đồng hợp tác kinh doanh có thành lập pháp nhân và các hình thức chuyển nhượng vốn khác theo quy định của pháp luật. Thu nhập từ quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản (không bao gồm bất động sản), là thu nhập từ chuyển nhượng, cho thuê, khai thác quyền sở hữu trí tuệ, tài sản, các loại giấy tờ có giá khác; thu nhập từ thanh lý tài sản.
Thu nhập từ lãi cho vay, bao gồm cả lãi trong trường hợp bán hàng trả chậm, bán hàng trả góp. Các khoản thu nhập về: tiền phạt thu được do bên đối tác vi phạm hợp đồng, các khoản tài trợ bằng tiền hoặc bằng hiện vật nhận được, các khoản bồi thường bảo hiểm (sau khi đã trừ tổn thất), chênh lệch do định giá lại tài sản theo quy định của pháp luật và các khoản thu nhập khác.
Căn cứ tính thuế là thu nhập tính thuế trong kỳ và thuế suất. DN đăng ký với cơ quan quản lý thu thuế việc lựa chọn kỳ tính thuế là năm dương lịch hoặc năm tài chính. Kỳ tính thuế được thực hiện theo quy định của pháp luật về quản lý thuế.
Thu nhập tính thuế trong kỳ tính thuế được xác định bằng thu nhập chịu thuế trừ thu nhập được miễn thuế và các khoản lỗ được kết chuyển từ các năm trước. Thu nhập chịu thuế bằng doanh thu trừ các khoản chi phí được trừ của hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ, cộng thu nhập khác nhận được từ các nguồn, kể cả thu nhập thu được ở nước ngoài. Trường hợp DN đang được ưu đãi thuế thu nhập DN thì thu nhập khác quy định tại Khoản 2 Điều 3 của Luật thuế TNDN không được tính vào thu nhập của hoạt động được ưu đãi thuế. Dự thảo cũng đưa ra cách xác định một số khoản thu nhập chịu thuế khác như: thu nhập từ chuyển nhượng vốn, thu nhập từ các hoạt động liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ, thu nhập về cho thuê tài sản, thu nhập từ chuyển nhượng, thanh lý tài sản... Dự thảo cũng quy định về các vấn đề Doanh thu để tính thu nhập chịu thuế, Các khoản chi được trừ và không được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế, phương pháp tính thuế, Thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản, ưu đãi thuế, thuế suất ưu đãi, miễn giảm thuế, Trích lập Quỹ phát triển khoa học và công nghệ của DN. Trong trường hợp DN đang hưởng ưu đãi thuế thu nhập DN theo quy định của Luật thuế thu nhập DN số 09/2003/QH11 tiếp tục được hưởng các ưu đãi này cho thời gian còn lại theo quy định của Luật thuế thu nhập DN số 09/2003/QH11; trường hợp mức ưu đãi về thuế thu nhập DN bao gồm cả thuế suất ưu đãi và thời gian miễn thuế, giảm thuế thấp hơn mức ưu đãi theo quy định của luật này thì được áp dụng ưu đãi thuế theo quy định của luật này cho thời gian còn lại.
DN thuộc diện hưởng thời gian miễn thuế, giảm thuế theo quy định của Luật thuế thu nhập DN số 09/2003/QH11 mà đến hết 31/12/2008 chưa có thu nhập chịu thuế, chưa có doanh thu hoặc đã có doanh thu nhưng chưa đủ 3 năm kể từ khi có doanh thu thì thời điểm bắt đầu tính thời gian miễn thuế, giảm thuế được xác định theo quy định của luật này. DN thuộc diện hưởng thời gian miễn thuế, giảm thuế theo quy định của Luật thuế thu nhập DN số 09/2003/QH11 mà đến hết 31/12/2008 chưa có thu nhập chịu thuế nhưng thời gian đã có doanh thu tính đến 31/12/2003 đã đạt từ 3 năm trở lên thì thời điểm bắt đầu tính thời gian miễn, giảm thuế được xác định từ 1/1/2009.
Hoàng Hà