Thủ tướng chính phủ vừa ra Chỉ thị 25/2008/CT-TTg về tăng cường chỉ đạo tiêu thụ nông sản thông qua hợp đồng, trongđó chỉ đạo, hướng dẫn việc dồn điền, đổi thửa; Thực hiện các chính sách có liên quan đến sản xuất, chế biến và tiêu thụ nông sản… Tuy nhiên, trên thực tế vấn đề tuân thủ và tôn trọng các hợp đồng đã ký đang bị coi nhẹ, dẫn đến các “cuộc chiến” thu mua nguyên liệu thường xuyên diễn ra với tính chất ngày càng gay gắt.
Tại anh - tại ả
Hiện nay, có một thực tế là DN và nhà nông chưa thật sự nhìn nhau như một đối tác "cùng hội cùng thuyền", "nước nổi bèo nổi" mà mạnh ai nấy chạy. Do vậy, mặc dù đã cam kết và ký hợp đồng với nhau về mặt giấy tờ nhưng dù có được mùa hay mất mùa thì vẫn có kẻ khóc người cười. Cụ thể tại 3 tỉnh Bình Định, Phú Yên, Gia Lai đang diễn ra một nghịch cảnh: trong khi người nông dân hả hê vì bán được mía với giá cao (từ 200.000 – 320.000 đồng/tấn) thì các doanh nghiệp sản xuất mía đường khóc dở mếu dở vì thiếu nguyên liệu sản xuất, bất chấp việc nguồn nguyên liệu đã được “đánh dấu và khoanh vùng” trên hợp đồng. Và thế là “Cuộc chiến mía đường” xảy ra với nguy cơ hàng chục nhà máy được sẽ phải đóng cửa.
Chè là ví dụ thứ hai, cũng đau đớn không kém. Nếu chè búp tươi ế ẩm thì nhà máy bị rơi vào tình trạng khủng hoảng thừa. Ngược lại, giá chè ngoài thị trường tự do tăng cao thì tình trạng khủng hoảng thiếu nguyên liệu cũng ngay lập tức xảy ra. Nhiều gia đình nhận khoán đất trồng chè, được mua chịu phân bón, được hướng dẫn kỹ thuật chăm sóc cây… vẫn sẵn sàng bán cho tư thương nếu thấy được giá hơn. Số lượng chè bán cho nhà máy chỉ là ví dụ chứng minh cho sự tồn tại của cái gọi là Hợp đồng tiêu thụ sản phẩm.
Tuy nhiên, trên thực tế không phải chỉ có nhà nông phá vỡ hợp đồng. Bản thân nhiều doanh nghiệp lợi dụng sự kém hiểu biết của bà con về chất lượng, giá cả đã ép giá khi được mùa. Mức giá thỏa thuận có thể bị doanh nghiệp đánh tụt xuống chỉ sau một câu phán xanh rờn: Chất lượng không đảm bảo, chỉ đạt loại B hoặc C… Lúc đó người nông dân không biết bấu víu vào đâu đành "ngậm bồ hòn làm ngọt". Nếu không bán cho doanh nghiệp, để càng lâu, chất lượng sản phẩm sẽ càng kém và lại càng khó bán.
Tạo dựng niềm tin
Người viết bài này đã có dịp đến thăm trang trại trồng rau của một cặp vợ chồng Hàn – Việt tại Daego (Hàn Quốc). Công việc của họ khá đơn giản, như thể được vạch sẵn trên computer: Hôm nay hái rau mang vào siêu thị, ngày hôm sau đến thu tiền. Hôm sau nữa lặp lại quy trình trên… Thu nhập từ lịch trình có vẻ đơn giản ấy khá ổn định: Mỗi tháng chừng 4-5 ngàn USD. “Chưa bao giờ chúng tôi gặp trục trặc từ phía công ty tiêu thụ sản phẩm. Khi thời tiết diễn biến bất thường ảnh hưởng đến năng suất và chất lượng, chúng tôi lại được doanh nghiệp hỗ trợ. Chưa bao giờ chúng tôi dám vi phạm hợp đồng, kể cả những ngày các siêu thị khan hiếm rau, giá rau ngoài thị trường tăng lên đáng kể…” - ông chủ trang trại cho biết. Câu chuyện trên cho thấy, giữa nhà cung cấp và tiêu thụ sản phẩm đã có được mối quan hệ khá chặt chẽ, làm ăn lâu dài, trên cơ sở tạo dựng được niềm tin với nhau.
Trong khi đó, hợp đồng được ký giữa các doanh nghiệp Việt Nam và bà con nông dân chỉ mang tính tương đối. Khi doanh nghiệp vi phạm hợp đồng (không thu mua đủ sản phẩm như đã thỏa thuận, định giá chất lượng chưa chuẩn…), bà con cũng khó mà thưa kiện, phần vì hiểu biết pháp luật hạn chế, phần vì doanh nghiệp có vô vàn lý do để biện minh cho việc làm của mình. Ngược lại, khi người nông dân cố tình vi phạm hợp đồng, đẩy doanh nghiệp vào thế bị động về nguồn nguyên liệu, doanh nghiệp chỉ còn biết kêu trời. Trong tiền lệ, chưa thấy doanh nghiệp nào “bắt vạ” được nhà nông, khi họ chỉ vì một lợi nhuận rất nhỏ cũng sẵn sàng ném bản hợp đồng vào sọt rác.
Trong giai đoạn này, vấn đề tuyên truyền, giáo dục pháp luật vẫn được đặt lên hàng đầu. Chỉ thị 25/2008/CT-TTg của Thủ tướng đã nhấn mạnh việc cần thiết phải vận động bà con tôn trọng hợp đồng, bảo đảm lợi ích cho cả nhà nông và doanh nghiệp. Muốn đạt được mục đích đó, giữa doanh nghiệp và nhà nông phải xác lập được niềm tin. Có niềm tin sẽ có tất cả. Doanh nghiệp nào chiếm được niềm tin của nhà nông, doanh nghiệp đó ắt sẽ thành công.
Tuy nhiên, về mặt kinh tế vĩ mô, vấn đề quy hoạch vùng nguyên liệu gắn với công nghiệp chế biến và thị trường; thực hiện dồn điền đổi thửa để tạo ra vùng nguyên liệu lớn, đủ đáp ứng nhu cầu sản xuất, dần loại bỏ sản xuất nhỏ lẻ… cần phải được thực hiện nhanh chóng. Sản xuất với quy mô lớn, chủ động được vùng nguyên liệu không chỉ tiết kiệm chi phí, hạ giá thành sản phẩm mà còn tạo ra sự ổn định cho hoạt động sản xuất. Khi ấy, người nông dân sẽ nhìn được xa hơn và vấn đề thu mua nông sản thông qua hợp đồng sẽ trở nên đơn giản…
Kim Khánh