Bắt đầu từ tháng 9, quyết định giữ nguyên lãi suất cơ bản và tăng lãi suất tiền gửi dự trữ bắt buộc tại Ngân hàng nhà nước của Thống đốc Ngân hàng nhà nước có hiệu lực. Ngay lập tức, thị trường đã có những phản ứng tích cực.
Với quyết định đó có thể dự đoán rằng trong 8 tháng đầu năm, dư nợ cho vay của các Ngân hàng thương mại và Tổ chức tín dụng vẫn ở mức cao, mà trong điều hành, Ngân hàng nhà nước thấy cần phải giữ nguyên tỷ lệ dự trữ bắt buộc để hạn chế tốc độ nhân tiền, kìm hãm việc mở rộng tín dụng.
Những con số ý nghĩa
Bởi vì với bình quân 3 Ngân hàng thương mại nhà nước (không tính Ngân hàng phát triển nhà đồng bằng sông Cửu Long) và Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam (VCB) giả thiết rằng có tổng số dư tiền gửi là khoảng 200.000 tỷ đồng, trong đó tiền gửi nội tệ giả thiết bình quân của mỗi ngân hàng là 150.000 tỷ đồng, thì tiền gửi dự trữ bắt buộc phải nộp đối với mỗi ngân hàng là 16.500 tỷ đồng. Hoặc giả sử tổng tiền gửi nội tệ của các Ngân hàng thương mại Việt Nam là 850.000 tỷ đồng, thì số tiền gửi dự trữ bắt buộc phải nộp là 93.500 tỷ đồng. Đây là con số khá "ý nghĩa" trong điều hành chính sách. Song đối với các Ngân hàng thương mại và Tổ chức tín dụng thì quyết định giữ nguyên tỷ lệ dự trữ bắt buộc góp phần làm cho chi phí huy động vốn vẫn rất cao, tác động đến lãi suất đầu vào, tác động đến lãi suất cho vay.
|
Ngày 29/8 Thống đốc Ngân hàng nhà nước đã ban hành quyết định giữ nguyên lãi suất cơ bản là 14 %/năm, nhưng thay vào đó tăng lãi suất tiền gửi dự trữ bắt buộc đối với nội tệ tại Ngân hàng nhà nước từ 1,2 %/năm lên 3,6 %/năm. |
Tuy nhiên, việc tăng lãi suất tiền gửi dự trữ bắt buộc tiền gửi nội tệ lên gấp 3 lần mức trước đó có ý nghĩa tác động giảm chi phí huy động vốn, tạo điều kiện cho Ngân hàng thương mại giảm lãi suất cho vay.
Ngân hàng nhà nước không quyết định tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc tiền gửi ngoại tệ, có thể việc cho vay vốn ngoại tệ không bị khống chế. Hơn nữa cách đây không lâu, các đối tượng được vay vốn ngoại tệ theo quy định của Ngân hàng nhà nước đã được thu hẹp. Bên cạnh đó tiền gửi ngoại tệ ít có thể "nhân tiền" tín dụng như nội tệ. Một cách hiểu khác đó là việc cho vay vốn bằng ngoại tệ đối với các doanh nghiệp nhập khẩu máy móc thiết bị, hiện đại hoá dây chuyền công nghệ, mở rộng sản xuất kinh doanh, nhập nguyên vật liệu cho sản xuất hàng xuất khẩu,...vẫn được khuyến khích.
Đồng loạt giảm lãi cho vay
Phản ứng tức thì đối với quyết định trên của Ngân hàng nhà nước, ngay trong ngày 29/8/2008, các Ngân hàng thương mại nhà nước và Vietcombank đã có quyết định điều chỉnh lãi suất cho vay vốn nội tệ đối với khách hàng giảm từ 0,5 - 1,525 %/tháng so với trước.
Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam quy định lãi suất cho vay tối đa là 20 %/năm và lãi suất cho vay khách hàng là các tập đoàn kinh tế, doanh nghiệp trực tiếp tạo ra sản phẩm, tham gia bình ổn nền kinh tế,... chỉ có 19%; đặc biệt các doanh nghiệp xuất khẩu lãi suất cho vay chỉ là 18,8 %/năm. Ngân hàng Công Thương cũng có mức lãi suất tương ứng lần 20,2 %/năm và 19,5%/năm; của NHNO&PTNT Việt Nam là 20 %/năm và 19,2 %/năm; của Ngân hàng phát triển nhà đồng bằng sông Cửu Long là 20 %/năm và 19,0 %/năm.
Ngân hàng thương mại cổ phần Kỹ Thương cũng giảm lãi suất cho vay đối với khách hàng từ 0,5-1,0 %/năm, tập trung chủ yếu là các doanh nghiệp xuất nhập khẩu. Ngân hàng thương mại cổ phần Liên Việt cũng đưa ra mức lãi suất cho vay Đồng Việt Nam là 19 %/năm đối với các khách hàng đáp ứng được tiêu chí lựa chọn của ngân hàng.
Trước đó nhiều Ngân hàng thương mại cũng điều chỉnh giảm lãi suất cho vay USD xuống dưới 10 %/năm, thậm chí là dưới 9 %/năm. Đối với khách hàng đặc biệt, cam kết chiết khấu bộ chứng từ qua Ngân hàng thương mại đó lãi suất cho vay dưới 8 %/năm...
Các quyết định nói trên của Ngân hàng nhà nước và của các Ngân hàng thương mại tác động tích cực đến nền kinh tế, đặc biệt là sản xuất kinh doanh và Thị trường chứng khoán; đồng thời không gây sốc đối với người gửi tiền và vẫn đảm bảo quyền lợi của họ. Riêng tác động rõ đối với Thị trường chứng khoán sẽ được thấy rõ nhất là giá cổ phiếu của nhóm Ngân hàng thương mại cổ phần. Tuy nhiên lãi suất cho vay nền kinh tế vẫn tới 19 - 20 %/năm là quá cao so với mặt bằng lãi suất chung trong khu vực và quá cao so với sức chịu đựng của doanh nghiệp và người sản xuất kinh doanh. Đông đảo dư luận kỳ vọng lãi suất cơ bản sẽ được điều chỉnh giảm trong thời gian ngắn tới để lãi suất cho vay nền kinh tế có thể hạ thêm và giúp các Ngân hàng thương mại cải thiện tình hình tài chính.
Nguyễn Hà