Thứ Ba, 19/08/2008 - 09:08

Đích ngắm 100 triệu thuê bao: Lợi thế đang thuộc về ai?

Vài năm gần đây, chúng ta đang chứng kiến sự tăng trưởng nhanh chưa từng có của thị trường thông tin di động. Đặc biệt, sự tăng trưởng diễn ra những tháng đầu năm 2008 rất sôi động, kể cả về mạng lưới cũng như số lượng thuê bao. Nếu giả sử 10% lượng người sử dụng 2 máy điện thoại di động thì tổng số dân sử dụng di động ở nước ta vào khoảng 62 triệu, tức là cứ 100 người thì có 70 người sử dụng.

Sẽ đến lúc mỗi người dân có nhu cầu sử dụng di động có 1 máy và nếu tính chung cho cả những người sử dụng nhiều hơn 1 máy thì Việt Nam sẽ có khoảng 100 triệu máy - một chuyên gia trong ngành viễn thông nhận định. Tỷ lệ 100% và hơn nữa số thuê bao trên dân số có thể thấy tại các nước có nền kinh tế phát triển như Singapore, Nhật Bản...

Theo ước tính, với tốc độ phát triển như hiện nay thì đến đầu năm 2010, Việt Nam sẽ đạt được tỷ lệ như vậy. Đến khi đó thì 3 đại gia Viettel, MobiFone và VinaPhone sẽ ở vị trí nào?

Cuộc đua nước rút

Dựa trên số liệu Bộ Thông tin và Truyền thông công bố vừa qua thì Viettel chiếm trên 40% thị phần, MobiFone chiếm 28%, và VinaPhone chiếm 25%, Sfone chiếm 7%. Rõ ràng là Viettel đang có lợi thế dẫn đầu, cách xa các đối thủ còn lại. Nhưng ví trí này chưa dừng ở đó, mạng này luôn có tốc độ phát triển nhanh hơn các mạng khác. Theo số liệu phát triển thuê bao theo ngày thì Viettel trung bình phát triển khoảng 60.000 thuê bao, MobiFone khoảng 40.000 thuê bao, tức là tốc độ của Viettel cao hơn 1,5 lần so với MobiFone. Và càng ngày, giãn cách giữa Viettel và các mạng còn lại càng lớn ra. Trước tình hình này, mạng nào cũng ra sức chạy nhanh nhất có thể.

Bứt phá

Với lợi thế là mạng ra đời sớm nhất, MobiFone đã nhanh chóng chọn chỗ dễ kinh doanh là các khu vực kinh tế có nhiều thuận lợi, đặc biệt là các thành phố lớn, có 1 lượng khách hàng có thu nhập cao sử dụng từ những ngày đầu cung ứng dịch vụ. Tuy nhiên, khi thị trường bước vào cạnh tranh thật sự, MobiFone mới chợt nhận ra lượng khách truyền thống bấy lâu nay của mình là quá nhỏ so với thị trường 85 triệu dân của Việt Nam. MobiFone đã tập trung đầu tư nhiều hơn ở các vùng huyện lỵ để thu hút thuê bao mới, nhưng do cơ chế quản lý nhiều cấp, qua nhiều thủ tục, quy trình nên tiến độ triển khai gặp không ít khó khăn. Vị trí số 1 của MobiFone trên thị trường đã nhanh chóng bị Viettel "soán ngôi". Về các chính sách giá cước và khuyến mãi trong thời gian qua, dường như nhà mạng này không còn giữ được sự chủ động như trước nữa. Các chính sách mới đưa ra nhằm thu hút và giữ chân khách hàng thường chậm chân so với các đối thủ. Trong một thời gian khá dài, mạng này vẫn bảo thủ với những đối tượng khách hàng cũ, rất ít gói cước mới được tung ra, cho đến khi thị trường với những nhu cầu "cá biệt" được đáp ứng như Tomato, Ciao của Viettel thì MobiFone mới "động chân, động tay" để ra các gói như MobiQ, Mobi365.

Cuối năm 2004 toàn thị trường mới có khoảng 4 triệu thuê bao, đến cuối 2007 đã có khoảng 37 triệu, gấp gần 10 lần chỉ trong 3 năm, và đến cuối 6 tháng đầu năm 2008, tổng số thuê bao lũy kế đã tăng lên con số 50 triệu, và với tốc độ này thì cuối 2008, tổng số không ít hơn 65 triệu thuê bao.

Rồi các chương trình như nghe được tặng tiền, khuyến mãi giờ đêm, giảm giá cước quốc tế... cũng được MobiFone liên tục đưa ra, dù chậm chân nhưng đó cũng là cách để mạng này đảm bảo giữ chân khách hàng trung thành của mình.

Trái ngược hẳn với tuổi đời của MobiFone là 15 năm, mạng di động Viettel mới trải qua chặng đường chưa đến 4 năm nhưng đã vươn lên vị trí số 1. Thế mạnh lớn nhất Viettel có được là tốc độ xây dựng trạm phát sóng mới. Với chiến lược mạng lưới đi trước, kinh doanh đi sau, Viettel đã kịp phủ sóng cả những vùng chưa có khách hàng (vùng sâu, vùng xa). Chính cách làm này đã tạo được một cảm nhận tốt của người dân về vùng phủ rộng, dịch vụ không bị gián đoạn khi di chuyển. Bên cạnh đó, Viettel còn được người dân biết đến như một mạng có giá cước luôn hấp dẫn hơn các mạng, cộng với những chương trình khuyến mãi đã tạo dấu ấn trong tâm trí khách hàng khi mới bắt đầu cung ứng dịch vụ, nên những người có thu nhập trung bình và thấp, chiếm trên 90% dân số Việt Nam đều thích lựa chọn với mình hơn.

Về chiến lược tiếp cận khách hàng, Viettel khá chịu khó tìm kiếm những phân khúc mới ngoài những đối tượng cơ bản như các mạng đi trước, đó là những khách hàng có nhu cầu nghe nhiều (gói Tomato), đối tượng trẻ thích sử dụng các dịch vụ gia tăng như gói Ciao. Đặc biệt dịch vụ EDGE (nâng cấp từ GPRS) mới được triển khai trên toàn quốc đã nhanh chóng mang lại doanh thu lớn cho Viettel. Một dịch vụ rất thành công là I-muzik - dịch vụ nhạc chuông chờ, chỉ sau 1 năm rưỡi cung ứng đã có gần 10 triệu người sử dụng, dịch vụ chuyển tài khoản cho nhau I-share cũng được giới trẻ hưởng ứng. Sắp tới Viettel còn cung ứng cả máy BlackBerry và dịch vụ email có độ bảo mật cao trên nền di động.

Có thể nói chiến lược của Viettel khá rõ ràng trong việc đi cả 2 chân là phát triển khách hàng mới và cũng luôn tạo được sự mới mẻ cho các khách hàng đang sử dụng.

Hụt hơi

Mặc dù VinaPhone từng là mạng số 1 cả về thuê bao và vùng phủ sóng trong một thời gian rất dài, nhưng trong 1 năm trở lại đây, VinaPhone thể hiện khá mờ nhạt, mặc dù khách hàng chờ đón sự đổi mới toàn diện sau khi mạng này lần đầu tiên trên thị trường thay đổi hệ thống nhận diện thương hiệu đã tồn tại hơn 10 năm kể từ khi thành lập. Nhưng bộ máy kinh doanh vẫn chưa chuyển động để thoát ra khỏi sự cồng kềnh của một cơ cấu tổ chức phủ rộng bằng 64 bưu điện tỉnh, thành phố. Tình trạng nhiều thuê bao rời mạng cũng là bài toán đau đầu cho mạng di động này.

Có thể nói rằng chiến lược của VinaPhone trước đây là đúng. Nhưng đến thời điểm hiện tại đang chưa rõ nét, các bước đi dường như còn có các lực cản, và hi vọng với sự thay đổi cơ cấu tổ chức mới đang diễn ra căn bản tại Cty này sẽ phát huy tác dụng nhanh và lấy lại được đà tăng trưởng như cách đây 2 năm.

Trái lại, Sfone luôn nỗ lực làm mới mình bằng các dịch vụ gia tăng, các chiêu khuyến mãi hấp dẫn, và giá cả phù hợp với đối tượng khách hàng là giới trẻ. Nhưng điểm hạn chế của Sfone là vùng phủ sóng hẹp đã bị "in dấu" vào tâm trí khách hàng và còn một  lý do khác là thiết bị đầu cuối đơn điệu. Cho dù có muốn gắn bó lâu dài với Sfone, nhưng giới "sành ăn, sành chơi" vẫn không khỏi "cấn cá" khi thị trường có những nhà cung ứng dịch vụ tốt hơn, toàn diện hơn, đáp ứng được nhu cầu cả về thẩm mỹ thiết bị cũng như chất lượng dịch vụ. Công nghệ CDMA mà Sfone lựa chọn đang tỏ ra "lỗi mốt" và kém hiệu quả so với trào lưu hướng về công nghệ GSM.

   Việc nhà sản xuất máy cầm tay lớn nhất thế giới Nokia từ bỏ sản xuất các dòng máy CDMA để tập trung toàn lực cho GSM cho thấy lựa chọn của Sfone dự báo một tương lai rất khó khăn.

Còn 2 nhà khai thác CDMA khác là EVN Telecom và HT Mobile đã không tạo được dấu ấn trên thị trường đành phải chuyển hướng chiến lược, EVN thì tập trung vào điện thoại cố định không dây, HT Mobile thì đang trong quá trình chuyển đổi sang công nghệ GSM sau hơn 1 năm hoạt động.

Tính đến nay, thị trường di động Việt Nam đang được chia sẻ bởi 7 nhà cung ứng dịch vụ. Với thị trường 85 triệu dân thì con số 7 này là quá nhiều đối với số lượng các nhà khai thác di động. Ngay cả ở Trung Quốc với quy mô dân số gấp 15 lần Việt Nam mà cũng đang trong quá trình cơ cấu lại để chỉ còn 3 nhà cung ứng. Còn Việt Nam thì sao? Thị trường vốn rất khắc nghiệt như thế, các nhà khai thác di động có những chiến lược khác nhau xuất phát từ tầm nhìn khác nhau về thị trường tương lai, và tầm nhìn đó đang được hiện thực hóa bằng những "mũi tên" bắn phá vào cái đích 100 triệu thuê bao, cuộc chơi này đang có phần nghiêng về "anh chàng trẻ" Viettel với sự kiên định hướng đi lúc khởi mạng.

Nhật Hà

search