Biên độ khung thuế suất của Pháp lệnh Thuế Tài nguyên quá rộng làm cho nhà đầu tư đánh giá chính sách thuế tài nguyên có biểu hiện không rõ ràng, thiếu tính ổn định. Thêm nữa, nếu để biên độ quá rộng của khung thuế suất khiến cho thực chất vai trò quyết định về thuế chủ yếu thuộc về Chính phủ. Điều này cũng có nghĩa là vai trò của cơ quan lập pháp bị lu mờ...
Ông Phạm Chí Cường – Chủ tịch Hiệp hội Thép Việt Nam cho biết Hiệp hội Thép ủng hộ ban hành pháp lệnh sửa đổi khung thuế suất hiện hành theo hướng giữ mức thuế tối thiểu nhưng nâng mức thuế suất tối đa; Mức tăng thuế suất tối đa không nên quá cao như đề nghị mà nên ở mức vừa phải để còn bảo đảm tính cạnh tranh; Với khung thuế suất khoáng sản kim loại (kim loại đen và kim loại màu) nên ở mức 1 – 20%. "Với một số khu mỏ cần giữ tài nguyên cho sản xuất trong nước thì không cho khai thác để xuất khẩu như đã thực hiện”- ông Cường đề nghị.
Ông Nguyễn Tôn Quyền - Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Gỗ và Lâm sản cho rằng, pháp lệnh thuế tài nguyên đang có nhiều điều bất hợp lý, đặc biệt là đối với sản phẩm rừng tự nhiên của hộ gia đình.Trong trường hợp sản phẩm rừng tự nhiên được khai thác từ rừng đã giao cho hộ gia đình thì đánh thuế tài nguyên 100% là không đúng, vì nhà nước chỉ được quyền đánh thuế tài nguyên trên sản phẩm rừng tự nhiên thuộc sở hữu nhà nước, còn phần sản phẩm rừng tự nhiên thuộc sở hữu của hộ gia đình thì không được đánh thuế tài nguyên, mà phải áp dụng thuế đất nông nghiệp. Sửa đổi cách đánh thuế này sẽ có lợi cho hộ gia đình rất nhiều vì mức thuế suất thuế tài nguyên rất cao so với thuế đất nông nghiệp.
“Nhà nước đã có chính sách miễn giảm thuế đối với rừng trồng thì cũng nên miễn giảm thuế đối với rừng tự nhiên đối với hộ gia đình được giao, và thời gian miễn giảm thuế cần kéo dài khoảng 1-2 chu kỳ kinh doanh. Đối với kinh doanh rừng tự nhiên cũng trong tình hình tương tự, Nhà nước cần có chính sách khuyến khích phát triển rừng tự nhiên mạnh mẽ hơn” - ông Quyền nói.
Đại diện Công ty TNHH Vàng Phước Sơn kiến nghị, mức thuế tài nguyên áp dụng đối với các dự án khai thác khoáng sản đang hoạt động (đã được cấp phép hoặc chứng nhận đầu tư) cần phải được quy định khác với mức thuế tài nguyên mới ban hành áp dụng đối với các dự án đầu tư mới đang hoặc sẽ được xúc tiến; Mức thuế suất áp dụng đối với các đối tượng nói trên có thể là mức thuế suất cao nhất trong khung thuế suất tài nguyên quy định tại Pháp lệnh thuế tài nguyên ban hành ngày 16/4/1998. Cụ thể: Thuế suất thuế tài nguyên đối với khai thác vàng là 6%, đối với các khoáng sản kim loại khác là 5%, đối với đá quý và đất hiếm là 8%, đối với than là 3%...;Cách thức điều chỉnh thuế suất nói trên tốt nhất nên được áp dụng đối với mọi dự án đầu tư khai thác khoáng sản đang hoạt động. Nếu không thể thì ít nhất cũng phải được áp dụng đối với các dự án khai thác khoáng sản có vốn đầu tư nước ngoài để thể hiện chính sách nhất quán của Nhà nước Việt Nam trong lĩnh vực phát triển kinh tế, đối với các nhà đầu tư trên thế giới.
“Khung thuế suất mới về thuế tài nguyên áp dụng đối với vàng dự kiến từ 10-30% là quá cao so với khung thuế suất quy định tại Pháp lệnh thuế tài nguyên ban hành năm 1998 và hoàn toàn nằm ngoài dự tính rủi ro của các nhà đầu tư nước ngoài trong quá trình nghiên cứu, lập dự án khả thi và quyết định tham gia đầu tư tại Việt Nam” - Đại diện Công ty TNHH Vàng Phước Sơn góp ý. Theo ông, nếu Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành và Chính phủ quyết định áp dụng khung thuế suất mới này đối với các doanh nghiệp đã được cấp giấy phép đầu tư và đang hoạt động thì chắc chắn các dự án đầu tư khai thác khoáng sản đang hoạt động sẽ phải đối mặt với nguy cơ phá sản hoặc kinh doanh thua lỗ.
Ts. Vũ Thu Hạnh - Bộ môn Luật Môi trường, Trường Đại học Luật Hà Nội cho rằng, biên độ khung thuế suất của Pháp lệnh thuế tài nguyên là quá rộng. “Chúng tôi nhất trí với dự thảo Pháp lệnh là cần phải tăng mức thuế suất, tuy nhiên khung thuế suất mà dự thảo Pháp lệnh quy định có khoảng cách quá lớn, bên cạnh ưu điểm mà tờ trình đã nêu thì có nhược điểm làm cho nhà đầu tư đánh giá chính sách thuế tài nguyên có biểu hiện không rõ ràng, minh bạch, thiếu tính ổn định (do nguy cơ tuỳ tiện trong việc áp mức thuế suất cụ thể là điều không tránh khỏi). Thêm nữa, nếu để biên độ khung thuế suất quá rộng khiến cho thực chất vai trò quyết định về thuế chủ yếu thuộc về Chính phủ. Điều này cũng có nghĩa là vai trò của cơ quan lập pháp bị lu mờ...”.
Ts. Hạnh đề nghị quy định mức tối thiểu của khung thuế suất cao hơn mức tối thiểu hiện hành đối với những tài nguyên cần có sự quản lý chặt chẽ hơn trong thời gian tới. Điều này đạt được 3 mục đích: Thể hiện chủ trương quản lý chặt chẽ hơn các nguồn tài nguyên thiên nhiên, đặc biệt là các nguồn tài nguyên không tái tạo, có nguy cơ bị khai thác quá mức để phục vụ cho tăng trưởng “nóng”; Thu hẹp khoảng cách của khung thuế suất sẽ hạn chế nguy cơ tuỳ tiện trong việc quy định các mức thuế cụ thể và đề cao vai trò của cơ quan quyền lực trong việc quy định nguồn thu cho ngân sách nhà nước…
Chị Trần Ngọc Ánh - Công ty TNHH Mỏ Nickel Bản Phúc cho rằng, tăng thuế tài nguyên để tăng cường công tác bảo vệ môi trường là không hợp lý. Bên cạnh đó, việc tăng thuế tài nguyên là để bắt kịp với sự biến động của tình hình giá cả các khoáng sản trên thị trường thế giới trong thời gian vừa qua là không thực hiện được. Chị Trần Ngọc Ánh còn cho rằng, việc tăng thuế tài nguyên để bảo vệ tài nguyên khoáng sản là không thoả đáng; Việc tăng thuế tài nguyên từ 1/1/2009 nhưng lại áp dụng hồi tố cho các dự án được cấp phép trước đó sẽ vi phạm nguyên tắc bảo vệ đầu tư nêu trong Luật Đầu tư và tình hình kinh tế thế giới và Việt nam trong 9 tháng năm 2008 đã có nhiều biến động không dự đoán trước được cũng đã gây không ít khó khăn cho các doanh nghiệp đầu tư tại Việt Nam.
Thu Hường