Trong ngổn ngang muôn vàn sự kiện, biết bao biến động trên cả thế giới và trong nước trong năm 2008, nổi lên một nhân vật có tầm ảnh hưởng bao trùm tất cả: Thông tin
Chắc chúng ta vẫn còn nhớ vào tháng 4 và tháng 5/2008, có hàng loạt báo cáo từ các tổ chức tài chính quốc tế đánh giá rất xấu tình hình cân đối cán cân thanh toán của Việt Nam và cho rằng Việt Nam sẽ chịu một cuộc khủng hoảng tiền tệ vì họ dựa vào các thông tin có được như nhập siêu tăng vọt, lạm phát cao ngất ngưỡng. Dựa vào các báo cáo này, nhà đầu tư nước ngoài cá cược tiền đồng sẽ mất giá mạnh, có lúc tỷ giá kỳ hạn lên đến 24.000 đồng một đô-la Mỹ. Đến cuối tháng 6/2008, Việt Nam tổ chức đối thoại với các nhà đầu tư trên thế giới qua cầu truyền hình và lần đầu tiên công khai mức dự trữ ngoại tệ là 20,7 tỷ đô-la. Ngay lập tức mức tỷ giá kỳ hạn mang tính cá cược nói trên nhanh chóng sụt giảm. Ở đây, rõ ràng thông tin có giá trị rất cụ thể với vai trò ổn định tâm lý to lớn không gì thay thế được.
Thông tin hay sự thiếu vắng thông tin cũng đóng vai trò quan trọng như thế trong các diễn biến khác, từ cơn sốt gạo chỉ kéo dài mấy ngày đến áp lực tâm lý lên lạm phát trong nhiều tháng đầu năm, từ sự lên xuống thất thường của thị trường chứng khoán đến việc lời lỗ của các tập đoàn kinh tế…
Thế nhưng cách chúng ta đối xử với thông tin trong năm 2008 dường như vẫn chưa thấy được tầm quan trọng của nó, hay đúng hơn là chưa có đủ năng lực để thu thập thông tin phục vụ cho việc điều hành kinh tế. Thông tin về sản lượng vụ lúa sắp thu hoạch không có dẫn đến lệnh tạm ngừng ký hợp đồng xuất khẩu gạo – làm nông dân Việt Nam bị mất cơ hội bán được gạo giá cao. Số liệu nhập siêu liên tục bị điều chỉnh nhưng đã kịp gây ra những lo lắng chưa chắc đã chính xác. Số liệu cho vay bất động sản, một loại số liệu tối cần thiết để có chính sách phù hợp, lại không có nên đến cuối tháng 11/2008, Ngân hàng Nhà nước còn yêu cầu các ngân hàng thương mại báo cáo tình hình cho vay bất động sản tính đến ngày 31/10/2008.
Nổi cộm nhất của việc chưa đánh giá đúng mức vai trò của thông tin là trong lãnh vực phòng chống tham nhũng. Cuối tháng 6/2008, đã có thông tin về việc Nhật Bản điều tra Công ty tư vấn PCI khai nhận đã hối lộ cho các viên chức chính phủ ở Đông Nam Á để trúng thầu các dự án từ nguồn vốn ODA, trong đó có Việt Nam. Lẽ ra, nếu xem trọng thông tin, Việt Nam hoàn toàn có thể công bố tiến hành điều tra cáo buộc này ngay lúc đó chứ không phải đòi phía Nhật Bản cung cấp bằng chứng. Hai dự án liên quan đến vụ này là hai dự án rất lớn ở TPHCM - Dự án Đại lộ Đông Tây và Dự án Vệ sinh môi trường đô thị, có ảnh hưởng đến cuộc sống của hàng triệu người dân. Nên nhớ trước đó, đã có thông tin về chất lượng các đốt hầm chìm của Dự án Đại lộ Đông Tây, chưa sử dụng đã có nhiều vết nứt.
Mặc dù các nhân viên PCI khai rõ trước tòa số tiền hối lộ, người nhận hối lộ nhưng mãi đến ngày 19/11/2008 TPHCM mới tạm đình chỉ công tác ông Huỳnh Ngọc Sỹ, Giám đốc Dự án Đại lộ Đông Tây, người mà PCI khai đã nhận hối lộ từ tay họ. Thiếu vắng thông tin về việc xử lý từ phía Việt Nam cũng như một cơ chế giám sát chặt chẽ, Nhật Bản buộc lòng phải tuyên bố tạm ngưng cam kết mới ODA cho Việt Nam. Đáng tiếc là đến thời điểm ấy, một quan chức TPHCM vẫn khăng khăng: “Nếu các bạn [Nhật Bản] cho rằng PCI hối lộ cho nhiều quan chức ở Đông Dương, không phải riêng ở TPHCM, thì đưa bằng chứng, chúng tôi sẽ xử lý ngay những người liên quan thuộc sự quản lý của chúng tôi”. Ông còn nói “chưa có chứng cứ thì không thể nào xử lý” và khẳng định “đến thời điểm này cũng không đưa được chứng cứ”.
Chống tham nhũng phải dựa vào thông tin – thông tin lại đến từ nhiều nguồn, cả chính thức lẫn không chính thức. Và khi đã có thông tin rồi thì điều tra để tìm chứng cứ, cả kết tội hay giải oan, là chuyện của chúng ta, là trách nhiệm của chúng ta. Ở đây không chỉ là chuyện chống tham nhũng đơn thuần mà còn là uy tín quốc gia. Trong thời đại thông tin nhanh chóng lan truyền như ngày nay, nếu không có thông tin từ các cơ quan nhà nước, chỗ trống đó sẽ bị lấp đầy bởi thông tin không chính thức, gồm cả các lời đồn đoán, suy luận, loại thông tin gây bất ổn nhất mà chúng ta muốn tránh.
Cũng vào những ngày cuối năm 2008, một quy chế từ Bộ Thông tin và Truyền thông được kỳ vọng sẽ hâm nóng lại hoạt động của làng báo, khẳng định lại quyền thông tin của báo chí cũng như nghĩa vụ phải duy trì sự chuyên nghiệp trong chuyển tải thông tin. Quy chế viết: “Đối với các vụ án đang được điều tra hoặc chưa xét xử và các vụ việc tiêu cực hoặc có dấu hiệu vi phạm pháp luật nhưng chưa có kết luận của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, báo chí có quyền thông tin theo nguồn tài liệu của mình nhưng phải viện dẫn nguồn tin và chịu trách nhiệm trước pháp luật về nội dung thông tin đã đăng, phát”. Đây chính là điều báo chí cần sau vụ xét xử hai nhà báo, cũng liên quan đến “nhân vật thông tin” trong năm 2008.
Nguyễn Vạn Phú