Thứ Bảy, 27/12/2008 - 07:00

Xuất khẩu lao động: Đừng để “ăn lẹm vào quá khứ"

Điều mà các doanh nghiệp xuất khẩu lao động sợ nhất là rủi ro. Bởi vậy trong lĩnh vực nay, càng thận trọng sẽ càng tránh được các khoản chi “ăn lẹm vào quá khứ’

Không ham số lượng

Đầu năm 2008, trở về sau chuyến khảo sát thị trường Séc, anh Nguyễn Công Bình, Chủ tịch Hội đồng quản trị, Tổng Giám đốc Công ty cổ phần Hợp tác lao động nước ngoài (LOD) khẳng định: “Lần đi này là để tự tin đóng cửa, mà không phải đi mở cửa thị trường như những lần khác”.

Ở thời điểm đó, anh Bình đã nhận thấy có quá nhiều rủi ro chờ đợi người lao động và doanh nghiệp. Đó là điều kiện ăn, ở không đảm bảo, nhiều lao động đi sang bằng visa thương nhân phải tự kiếm việc làm, gây khó cho việc đàm phán mức lương tối thiểu của những lao động đi theo hợp đồng… Việc tự động đóng cửa thị trường Séc với Công ty LOD được cho là hợp lý khi hơn 1 tháng sau (3/2008) Cục Quản lý lao động ngoài nước (Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội) yêu cầu các doanh nghiệp tạm dừng tuyển mới lao động đi Séc để giải quyết số tồn đọng và chấn chỉnh thị trường.

Đến cuối tháng 11 vừa qua, Chính phủ Séc đã có thông báo chính thức ngừng cấp visa cho người Việt Nam với lo lắng về tình trạng mất an ninh gia tăng. Đương nhiên, nhiều chục ngàn hồ sơ xin cấp visa vào Séc vẫn còn nằm chờ tại Đại sứ quán Séc tại nước ta và trong hộc bàn của nhiều doanh nghiệp. Cơn sốt đi Séc đã bị dội một gáo nước lạnh. Nhiều doanh nghiệp tá hỏa khi nghe tin này, nhưng LOD lại rất bình thản bởi từ tháng ba, công ty đã không tiếp tục tuyển dụng lao động đi Séc nữa mặc dù vẫn có không ít đối tác tìm đến. Những lao động đã tuyển đi Séc của Công ty được chuyển sang thị trường khác, lao động nào không muốn tiếp tục ra nước ngoài làm việc được thanh lý hợp đồng trong êm thấm.

Bản tính cẩn thận đã giúp anh Bình và Công ty LOD tránh được cú sốc từ thị trường Séc mà nhiều doanh nghiệp mắc phải. Công ty nhiều thì phải chi ra hàng chục tỷ đồng, ít thì vài tỷ. Vấn đề ở chỗ, tiền lao động đặt cọc đã được chi vào những việc như: lấy giấy phép lao động, lo hồ sơ thủ tục, phí phỏng vấn lấy visa… Nhưng đến lúc người lao động không có được visa để xuất cảnh (không phải lỗi từ phía doanh nghiệp), doanh nghiệp cũng vẫn phải hoàn trả người lao động những chi phí đó.

Bởi vậy, những doanh nhân như anh Bình hiện không còn quá quan trọng về số lượng lao động năm nay công ty đưa đi được là bao nhiêu, cho dù đó cũng là một trong những cách để đánh giá tầm vóc các doanh nghiệp xuất khẩu lao động hiện nay. Chạy theo số lượng lao động đưa đi cũng đồng nghĩa với việc có hợp đồng và có được lao động bằng mọi giá. Nhiều rủi ro tiềm ẩn từ những vấn đề này mà chính doanh nghiệp cũng không lường trước được như điều kiện làm việc, tiền lương của lao động không cao, đình công xảy ra và người lao động có thể về nước bất cứ lúc nào. Một loạt các hệ lụy tất yếu sẽ diễn ra như: bồi thường, kiện cáo… Thậm chí tiền phí quản lý được phép thu của người lao động (theo quy định mỗi năm tương đương với 1 tháng lương cơ bản) không đủ chi phí để đại diện của doanh nghiệp bay đi bay về giải quyết vụ việc.

Trăm dâu đổ đầu tằm

Một doanh nhân trong giới xuất khẩu lao động đã tính toán, nếu đưa được một lao động vào thị trường tốt, thu nhập cao, hiệu quả bằng việc đưa 5- 6 lao động vào các thị trường thu nhập thấp. Hiệu quả ở đây được tính bằng số phí họ thu được và số tiền họ phải chi ra. Có thể chi phí để có được hợp đồng ở những thị trường khó tính cao hơn những thị trường thu nhập thấp, nhưng đổi lại, ít rủi ro hơn. Bởi khác với các ngành khác, khi xuất một thứ hàng biết nói, biết kiện tụng là sức lao động, phí doanh nghiệp thu được khi lao động xuất cảnh chỉ thuộc về doanh nghiệp khi người lao động hoàn thành thời hạn hợp đồng trở về nước. Chỉ cần người lao động tại nước ngoài có “vấn đề” như ốm đau, đình công, đánh nhau, tai nạn lao động… doanh nghiệp phải cử đại diện đến giải quyết. Trong những trường hợp nghiêm trọng, đích thân giám đốc công ty phải bay sang để giải quyết.

Nhưng ở những thị trường có thu nhập cao, đòi hỏi về chất lượng lao động cũng cao hơn và đòi hỏi về sự độc lập của người lao động cũng cao… không kém. Từ đây cũng nảy sinh nhiều vấn đề. Câu chuyện từ một doanh nghiệp đang đưa lao động sang thị trường Bắc Mỹ là một ví dụ. Doanh nghiệp này đã tuyển dụng hơn 30 lao động sang làm việc trong một hợp đồng cung ứng lao động ngành nông nghiệp. Theo lệ chung, khi đối tác “lo” được giấy phép lao động, người lao động phải trả một khoản tiền nhất định, ở thị trường này là 2.500 đô-la/người. Doanh nghiệp này đã ứng tiền ra cho lao động vay trước. Nhưng khi có giấy phép lao động, không ai có thể đảm bảo được là lao động đó có được visa để vào làm việc mà điều này phụ thuộc vào quá trình phỏng vấn của người lao động và quyết định của lãnh sự quán. Lao động phỏng vấn bị trượt và không được cấp visa, đương nhiên họ kiện tụng tùm lum để đòi lại số tiền đặt cọc (hơn 1.000 đô-la/người). Còn doanh nghiệp thì “méo mặt” với khoản chi 2.500 đô-la/người, coi như lỗ nặng.

Trong giới xuất khẩu lao động, kỹ năng giải quyết các vấn đề phát sinh quan trọng không kém kỹ năng tìm kiếm, thương thảo hợp đồng và “chăm sóc” đối tác. Có doanh nghiệp phải cử đại diện của mình trông… thi hài của người lao động nhiều ngày đêm ngay tại trụ sở UBND xã, quê của lao động chỉ vì gia đình người lao động kiên quyết không nhận thi hài con. Họ cho rằng, không có lý do gì để người thân của họ bị đột tử. Sau nhiều ngày thương thảo không xong, thậm chí doanh nghiệp đó phải đưa thi hài của lao động ngược về Hà Nội và gửi vào nhà lạnh, đợi thương thảo xong với sự vào cuộc của Chủ tịch UBND huyện, gia đình nọ mới chịu làm tang cho con nhưng kiện cáo vẫn tiếp diễn hơn 1 năm qua. Với những vụ việc thế này, tổng chi phí lên tới hàng trăm triệu đồng mỗi vụ.

Tới thời điểm này, một số doanh nghiệp “đình đám” trong làng xuất khẩu lao động đang rục rịch đổi nghề. Nhất là trong cả năm nay, kinh tế thế giới suy thoái, từng hàng dài lao động phải về nước trước thời hạn, không ai khác mà chính doanh nghiệp là người gánh phần lớn rủi ro. Nhiều doanh nhân không giấu nổi sự mệt mỏi vì những điều này và những khoản tiền “ăn lẹm vào quá khứ” của doanh nghiệp cũng vì thế mà tăng lên.

Bình Phương
search