Hiển nhiên, chủ động ngăn ngừa suy giảm, hoặc ngăn chặn đà suy giảm kinh tế trong năm tới có nghĩa là giữ cho tốc độ tăng trưởng không bị tụt dốc so với năm nay. Trong điều kiện môi trường phát triển chắc chắn sẽ còn xấu đi rất nhiều trong năm tới, có lẽ mục tiêu chủ động hạn chế đà suy giảm kinh tế, tức là áp dụng mọi biện pháp có thể để giảm thiểu những tác động bất lợi của môi trường phát triển đó, nhưng vẫn phải chấp nhận tốc độ tăng trưởng thấp hơn có lẽ là mục tiêu khả thi hơn.
Trước hết, nếu nhìn lại hơn một thập kỷ trước, cũng có thể thấy những tác động của cuộc khủng hoảng kinh tế khu vực đối với nền kinh tế nước ta là không hề nhỏ. Tất nhiên, hoàn cảnh lịch sử đã thay đổi, và điều còn quan trọng hơn nữa chính là, thế và lực của nền kinh tế nước ta đã khác rất xa so với cách đây hơn một thập kỷ, cho nên chắc chắn kịch bản “tối như mực” ấy sẽ khó có thể lặp lại.
Bài học với khủng hoảng
Tuy nhiên, từ thực tế cuộc sống, cũng có thể thấy những khó khăn tương đồng mà chúng ta sẽ phải đối mặt trong năm 2009 sắp tới.
- Thứ nhất, với độ mở của nền kinh tế ở cả đầu ra xuất khẩu lẫn đầu vào nhập khẩu đều tăng rất nhanh, việc giá cả thế giới rơi tự do khiến cả hoạt động xuất khẩu lẫn nhập khẩu của nước ta sẽ bị đảo lộn khiến những khó khăn mà chúng ta sẽ phải đối mặt sẽ hết sức gay gắt.
Trước hết, nếu như độ mở ở đầu ra xuất khẩu của nền kinh tế nước ta năm 1998 mới chỉ là 33,67%, nhưng với tốc độ tăng ngoạn mục trong thập kỷ vừa qua, con số này năm 2007 đã lên tới 68,26%. Không những vậy, từ xuất phát điểm cao vượt trội 41,36% và cũng phát triển với tốc độ “chóng mặt”, độ mở này ở đầu vào nhập khẩu đã lên tới 88,11%. Trong khi đó, nếu như giá nguyên liệu thế giới năm 1998 rơi tự do 19,62%, thì theo dự báo hồi tháng 11 vừa qua của IMF, tốc độ giảm này trong năm 2009 sắp tới còn nhỉnh hơn, bởi sẽ là 21,38%.
Rõ ràng, tuy giá hàng hoá thế giới rơi tự do như vậy, tuy không phải đối mặt với cả hai căn bệnh “nhập khẩu lạm phát” và nhập siêu, nhưng vấn đề mấu chốt là xuất khẩu chắc chắn cũng sẽ rơi tự do, và mặt khác, giá cả trong nước chắc chắn cũng hạ nhiệt sẽ cùng với suy giảm tăng trưởng kinh tế làm cho tình trạng thắt lưng buộc bụng ở thị trường trong nước trở nên trầm trọng. Việc thị trường trong nước trong tháng “cận Tết” hiện nay vẫn “lặng như tờ” cho dù không ít chương trình khuyến mãi rầm rộ đã liên tiếp được tung ra đủ cho thấy điều đó.
- Thứ hai, bên cạnh tác nhân giá cả, nếu như tốc độ tăng năm 1998 rơi tự do là do hàng hoá xuất khẩu của nước ta chủ yếu vẫn chỉ quanh quẩn trong khu vực, thì điều oái oăm hiện nay chính là ở chỗ, nhờ những nỗ lực vượt bậc trong suốt một thập kỷ qua, chúng ta đã chinh phục được các trung tâm kinh tế thế giới, nhưng đây sẽ là những thị trường “bết bát” nhất trong cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế lần này. Do vậy, việc đồng loạt cắt giảm nhập khẩu của những nơi này cũng tác động đến nền kinh tế nước ta không khác gì khủng hoảng kinh tế khu vực.
Đây có lẽ cũng là điều chưa được đánh giá đúng mức trong hoạch định kịch bản phát triển của nước ta trong năm 2009. Việc tốc độ tăng xuất khẩu năm 1998 rơi tự do xuống mức “đáy” 1,91% (năm 2007 là 26,59%), còn trong cuộc suy thoái kinh tế chu kỳ gần đây nhất cũng chỉ là 3,77%, còn kim ngạch xuất khẩu những tháng gần đây cũng liên tục rơi tự do, nhưng mục tiêu xuất khẩu dự kiến năm 2009 vẫn “ngự” ở mức 16%, nhưng sau đó cũng chỉ điều chỉnh giảm xuống 13% đủ cho thấy điều đó.
Trong điều kiện rõ ràng là không thiếu thị trường để phát triển như năm nay, bởi cả tốc độ tăng xuất khẩu lẫn tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng vẫn cao ngất ngưởng ở ngưỡng 30%, nhưng tốc độ tăng trưởng kinh tế vẫn tụt dốc gần hai điểm phần trăm, còn trong điều kiện khó khăn sẽ hết sức gay gắt về thị trường trong năm tới như vậy mà mức giảm này chỉ khoảng 0,2% có lẽ là chưa ổn.
Giảm lãi suất = kích cầu
Nhìn một cách tổng quát, có hai lý do chủ yếu để tin rằng, kịch bản của nền kinh tế nước ta trong năm tới sẽ không thể u ám như những năm 1997-1999.
Trước hết, với thế và lực của nền kinh tế hiện nay, thị trường nước ta vẫn là địa chỉ hấp dẫn đối với các nhà đầu tư nước ngoài, khác “một trời một vực” so với những năm cuối thập kỷ trước, cho nên vẫn sẽ là một nguồn động lực phát triển mạnh mẽ. Còn về nguồn nội lực, với quy mô của nền kinh tế đã lớn gấp khoảng ba lần và xét trên bình diện toàn cầu, với quốc gia đã được thăng hai hạng về thứ bậc phát triển (từ quốc gia thuộc nhóm kém phát triển nhất tiến lên nhóm các quốc gia đang phát triển có thu nhập thấp và năm nay sẽ được xếp vào nhóm các quốc gia đang phát triển có thu nhập trung bình), hiển nhiên là chúng ta đã mạnh hơn hẳn. Việc nguồn vốn FDI đăng ký trong năm nay tăng đại nhảy vọt vượt xa tất cả các dự báo, cũng như việc Chính phủ quyết định sẽ chi 1 tỷ USD để kích cầu đầu tư và tiêu dùng đủ cho thấy điều đó.
Thế nhưng, với những động thái hiện nay của nền kinh tế, có những căn cứ chủ yếu sau đây để cho rằng, những khó khăn mà các DN phải đối mặt sẽ càng chồng chất, cho nên cần phải “tăng liều thuốc tăng lực” lãi suất và cũng đồng thời là giải pháp kích cầu mà hầu như nền kinh tế nào cũng đặc biệt chú trọng càng sớm càng tốt:
- Thứ nhất, trong những tháng tới, xu thế thị trường ảm đạm dần khiến giá cả tiếp tục đà tụt dốc là điều khó có thể tránh khỏi.
Trước hết, xét trên tổng thể, tốc độ tăng trưởng kinh tế còn tiếp tục suy giảm đồng nghĩa với tốc độ tăng thu nhập của quảng đại các tầng lớp dân cư trong xã hội tăng chậm lại, khiến sức mua xã hội cũng giảm.
Trong đó, đối với các tầng lớp dân cư “yếu thế” trong xã hội, sẽ không phải chỉ là đối mặt với tốc độ tăng thu nhập chậm lại, mà công ăn việc làm còn trở nên khó khăn, trong khi những “di chứng” của thời lạm phát phi mã chắc chắn vẫn còn rất nặng nề, cho nên sức mua sẽ còn giảm mạnh. Đó là, do giá các hàng hoá và dịch vụ thiết yếu đều tăng quá mạnh trong một thời gian rất dài khiến nhóm 20% dân cư “làm không đủ ăn” (nhóm có thu nhập thấp nhất) và có lẽ là cả nhóm 20% dân cư ở trong tình trạng “giật gấu vá vai” (nhóm có thu nhập dưới trung bình) đều ở trong tình trạng suy kiệt, chí ít là giảm mạnh sức mua. Ngược lại, đối với bộ phận dân cư có thu nhập trung bình và thu nhập khá trong xã hội, trong điều kiện tốc độ tăng thu nhập chậm lại, giá cả thị trường liên tục giảm, phần thì tâm lý “thắt lưng buộc bụng” mạnh lên, phần thì tạm dừng để chờ giá hàng hoá và dịch vụ “chạm đáy” mới chi tiêu cũng khiến cho sức mua xã hội giảm và giá cả tiếp tục tụt dốc.
- Thứ hai, mục tiêu quan trọng hàng đầu mà chúng ta theo đuổi chí ít là từ nay đến giữa, thậm chí có thể kéo dài đến đầu năm 2010 là khắc phục tình trạng sản xuất, kinh doanh đình trệ, ngăn chặn đà suy giảm và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, thì lãi suất như vậy vẫn còn quá cao trong điều kiện giá cả thị trường vẫn đang trên đà tụt dốc như hiện nay.

Việc giảm lãi suất cơ bản sẽ giúp kích thích tiêu dùng, gián tiếp làm sức mua xã hội tăng lên.
Ảnh: Một góc khu mua sắm Vincom
Sở dĩ như vậy là bởi lẽ, trong điều kiện gía nguyên liệu thế giới đang trên đà tụt dốc mạnh như hiện nay, với một nền kinh tế mà “rổ hàng hoá nguyên liệu nhập khẩu” đã lên tới khoảng 60 GDP như nước ta, hàng loạt ngành sản xuất đang và sẽ còn rơi vào tình trạng nghịch lý càng nhập khẩu nhiều nguyên liệu để sản xuất càng lỗ lớn do sức ép giảm giá bán sản phẩm theo gía nguyên liệu ngày càng mạnh. Thực trạng “ôm hàng” của ngành thép, hay của những DN “có máu mặt” trong ngành nhựa khi giá các nguyên liệu này vẫn còn cao ngất ngưởng, cho nên hiện đang “sống dở chết dở” trước sức ép giảm giá đầu ra là những minh chứng. Do vậy, tiếp tục giảm mạnh lãi suất cơ bản (LSCB) để tiếp tục ép mạnh lãi suất cho vay của các ngân hàng thương mại xuống tương ứng chính là giải pháp đặc biệt quan trọng giúp rất đông đảo các DN sản xuất, kinh doanh vượt qua thời đoạn khó khăn này.
- Thứ ba, giảm mạnh LSCB hiện nay chính là nhằm thực hiện nguyên tắc lãi suất thực dương hợp lý.
Sở dĩ như vậy là bởi lẽ, trái ngược với tình trạng thực âm rất lớn trong hầu hết thời đoạn lạm phát phi mã vừa qua, với LSCB còn “mang rất nặng hơi hướng” chống lạm phát hiện nay, nó sẽ trở thành thực dương quá lớn trong điều kiện giá tiêu dùng chắc chắn sẽ còn tiếp tục giảm trong những tháng tới. Rõ ràng, trong trường hợp vẫn giữ LSCB như hiện nay, mà giá tiêu dùng tiếp tục giảm, thì người có vốn đương nhiên được hưởng lợi lớn. Ngược lại, không phải ai khác, mà chính là các DN sản xuất, kinh doanh - những đối tượng chủ yếu sử dụng nguồn vốn này - sẽ phải “è cổ” chịu gánh nặng vô lý này.
Tất cả những điều nói trên có nghĩa là, các DN sản xuất, kinh doanh hiện đang tồn tại giữa ba “làn đạn”: giá nguyên liệu đầu vào tuy đã liên tục giảm, nhưng thị trường đòi hỏi giá sản phẩm giảm lập tức, thậm chí giảm nhiều hơn, trong khi LSCB tuy đã bốn lần giảm chỉ trong vòng một tháng rưỡi qua, nhưng vẫn còn treo ở mức 10%, cao hơn nhiều so với gần hai phần ba thời gian có lạm phát phi mã vừa qua (8,25% và 8,75% từ tháng 9/2007 đến 18/5/2008).
Do vậy, giảm mạnh LSCB sẽ không chỉ là “liều thuốc tăng lực” hữu hiệu đối với hầu như tất cả các DN, bởi đây chính là “chìa khóa” để ép mạnh cả lãi suất huy động lẫn lãi suất cho vay lãi suất cho vay xuống, mà còn là để thực hiện nguyên tắc lãi suất thực dương, bảo vệ quyền lợi của người có vốn ở mức hợp lý.
- Thứ tư, một khi LSCB giảm mạnh, lãi suất huy động cũng giảm mạnh, thay vì đẩy tiền vào hệ thống tín dụng để hưởng lãi suất cao như hiện nay, người có vốn sẽ tăng cường chi tiêu, cho nên đây cũng là một giải pháp kích cầu rất hiệu quả. Việc đang có khoảng 100 nghìn tỷ đồng đang “chết cóng” trong hệ thống tín dụng, còn các DN vẫn “đói” vốn, trong khi chiến dịch khuyến mãi đang bùng nổ, nhưng thị trường trong tháng “cận Tết” vẫn đang “lặng như tờ” hiện nay đủ cho thấy điều đó.
Nói tóm lại, trong điều kiện khó khăn về thị trường trong năm tới chắc chắn sẽ còn gay gắt hơn nhiều so với hiện nay, suy giảm tăng trưởng kinh tế là điều khó có thể tránh khỏi, để tránh lặp lại bài học rơi tự do như đã từng xảy ra, chúng ta cần phải áp dụng mọi giải pháp để có thể kích cầu một cách hiệu quả.
Nguyễn Đình Bích