Đây là những sự kiện kinh tế -xã hội được cho là “tồi tệ” nhất 2008 vì đây đều là những sự kiện mang tính đặc thù cho sự yếu kém của cơ chế quản lý. Trả giá cho yếu kém ấy là sự cay đắng, xót xa, và những thiệt hại không thể quy thành tiền.
1/ VEDAN
Vụ VEDAN phải nêu đầu tiên do thể hiện đầy đủ sự yếu kém, bất lực của cơ chế... nước nhà trong quản lý, bảo vệ môi trường. Và thể hiện cụ thể sự xuống cấp của đạo đức cán bộ.
Phải mất tới 3 tháng “mật phục”, cơ quan chức năng mới bắt quả tang VEDAN đang xả thải “giết” sông Thị Vải. Ông Bộ trưởng Bộ TM-MT đăng đàn khẳng định đã “theo” VEDAN từ lâu, và sẽ đóng cửa DN này bằng được...
Kết quả là VEDAN chỉ bị xử phạt, không bị đóng cửa, cũng không bị xử lý hình sự. Dù DN này đã vi phạm và phải “hỗ trợ” cho dân từ nhiều chục năm trước, dù vi phạm ở mức độ cực kỳ nghiêm trọng: xây dựng hẳn một hệ thống hoàn chỉnh để che dấu hành vi xả chất bẩn suốt nhiều chục năm trời.
Nguyên nhân không “xử” được VEDAN là do ngoại phạm, buộc xây dựng hệ thống xử lý thải, thì hiện thiếu... chế tài để đóng cửa nhà máy và hình sự hóa vụ việc. Tệ hại hơn, là cả bộ máy chính quyền Trung ương, địa phương, lại không thể tìm ra cách đúng luật để những người dân bị thiệt hại vì sai phạm của VEDAN khởi kiện, đòi DN này phải đền bù.
Hình ảnh tiêu biểu cho sự bất lực của pháp luật trong bảo vệ quyền lợi người dân là hình ảnh những người dân đội đơn kiện VEDAN nhưng không một cơ quan nào tiếp nhận. Đáng xấu hổ thay, không bảo vệ được dân, nhưng lại không có cán bộ nào – bao gồm cả ông Bộ trưởng Bộ TN-MT – chịu từ chức. Nghĩa là chịu thừa nhận - bằng lương tâm của một con người, sau đó là ý thức của một cán bộ - sự yếu kém của mình. Điều đó cũng là thể hiện cụ thể của sự xuống cấp về đạo đức của nhiều cán bộ Nhà nước: không bảo vệ được dân nhưng vẫn bám giữ lấy “ghế” của mình.
2/ Đại lộ Đông – Tây
Tại Việt Nam, vụ đưa, nhận hối lộ tại Dự án đại lộ Đông – Tây (Tp Hồ Chí Minh) mới chỉ là bắt đầu, chưa kết thúc. Nhưng vẫn cần được nêu là một trong năm vụ việc kinh tế - xã hội tệ nhất, vì nó thể hiện cụ thể những bất ổn trong chính sách đối với nguồn vốn ODA của ta.
Tháng 8/2008, bốn người Nhật khai: đã nhiều lần hối lộ ông Huỳnh Ngọc Sĩ - Phó Giám đốc Sở GTVT, Giám đốc BQL dự án đại lộ Đông Tây tổng số 820.000 USD. Mục đích hối lộ là để Cty của họ thắng thầu một số dự án xây dựng tại thành phố. Tháng 12/2008, phía Việt Nam đã khởi tố vụ án đưa nhận hối lộ tại dự án Đại lộ Đông - Tây. Cùng lúc, chính phủ Nhật Bản tuyên bố tạm dừng cấp vốn ODA mới cho Việt Nam đến khi nào có kết luận cuối cùng về vụ án này.
Nhìn lại, những dấu hiệu của sự bất ổn trong quản lý, sử dụng vốn ODA của Việt Nam đã thể hiện từ lâu. Nhưng ít khi được làm đến cùng. Dẫn chứng cụ thể là vụ PMU 18, những dấu hiệu của một vụ tham nhũng trong sử dụng vốn ODA đã không (thể) được làm rõ. Dù ai cũng hiểu, số tiền các can phạm đã bỏ ra để cá độ không thể chỉ từ lương công chức Nhà nước. Mở rộng hơn, có liên hệ giữa sự giàu lên nhanh chóng của không ít cán bộ với các vụ “cọc tiêu cốt... tre” trong vụ PMU 18, hay “cốt cọc tiêu chỉ bằng một sợi thép phi 8” tại Hải Phòng... Hay không ít dự án bị "chỉ mặt, đặt tên" là lãng phí, chậm trễ, sai phạm....
Trong vô số nguyên nhân, có nguyên nhân do Thanh tra Chính phủ thừa nhận, là quy trình "khép kín" của các dự án ODA đã làm "khó" cho các cơ quan chức năng trong giám sát, quản lý... Vậy đó, yêu cầu quan trọng nhất trong sử dụng vốn ODA là minh bạch, thì “ở ta” nó lại vận hành... khép kín !
3/ Trận lụt “lịch sử” tại Hà Nội
Gọi là “lịch sử”, vì quả trong sử sách mấy nghìn năm, chưa thấy có dòng nào ghi Hà Nội từng bị ngập như mấy ngày tháng 10/2008. Trận lụt ấy là sự thể hiện cụ thể hiệu quả sửa chữa, cải tạo cơ sở hạ tầng thủ đô, mà có cơ quan vẫn liệt kê và gọi là thành tích cuối mỗi năm hoạt động.
Về nguyên nhân gây lụt, có ý kiến nói do chưa bao giờ miền Bắc mưa dữ dội và kéo dài đến thế, vượt quá khả năng của hệ thống tiêu thoát... Có ý kiến khẳng định do hiệu quả các dự án cải tạo, sửa chữa hệ thống tiêu thoát nước của thủ đô là kém. Thậm chí còn có ý kiến nghe xong mà... phát hoảng, là có đầu tư 500 triệu USD nữa – tức khoảng 8500 tỷ VNĐ - thì thủ đô vẫn ngập, nếu có một đợt mưa nữa kiểu này.
Thôi thì cứ tạm tin thủ đô ngập là do mưa to bất thường, dài ngày. Nhưng điều mà dư luận không “thông cảm” nổi, là không có cảnh báo nào về sự lụt được thông báo – dù chỉ trước vài giờ, chứ chưa bàn tới vài ngày – tới người dân (hệt như những gì đã xảy ra với những cơn bão trên biển Đông trong thời gian trước). Cũng như những phản ứng chậm chạp của bộ máy chính quyền để hỗ trợ người dân trong cơn lũ.
Có nghĩa, trận lụt không chỉ phô bày sự yếu kém về khả năng của hệ thống tiêu thoát nước thủ đô. Mà, phô bày sự yếu kém của chính chúng ta trong chuẩn bị, phản ứng, đối phó với các hiện tượng thời tiết bất thường. Tiếc thay, để có được kết luận ấy, đã có 20 mạng sống bị cướp đi ngay trong cơn lũ tại thủ đô, cũng như vài trăm, vài nghìn tỷ VNĐ thiệt hại chưa thể thống kê được cụ thể.
4/ Trộm cắp tầm... quốc gia
Tháng 5/2008 là thời điểm dư luận “sốc” trước thực tế đã bắt giữ 104 tàu chở hơn 100.000 tấn than để xuất lậu sang Trung Quốc. “Sốc” không chỉ vì lượng than bị bắt giữ là cực lớn. Mà còn vì chúng ta buộc phải thừa nhận thực tế: hàng triệu, hàng chục triệu tấn than đã bị ăn cắp để xuất lậu trong thời gian trước đó, vì cũng chỉ mất vài ngày để xuất lậu hơn 100.000 tấn than.
Lượng than khổng lồ để xuất lậu ấy không thể bị ăn cắp chỉ từ các điểm khai thác than tư nhân. Vậy thì liệu có phải than từ các mỏ của Nhà nước đang bị ăn cắp ? Câu trả lời là có, nhưng số lượng là bao nhiêu thì không thể xác định nổi, ngoài một số vụ lẻ tẻ, số lượng ít đã được phát hiện. Có cơ quan còn nhanh nhảu phát hiện: Hải quan đã “tiếp tay”, giúp hoàn thành thủ tục xuất lậu than. Nhưng thực ra, cần thừa nhận thực tế, là những cơ quan chức năng như TKV, Công an, Hải quan, Biên phòng, chính quyền tỉnh Quảng Ninh... đều phải chịu trách nhiệm chung trong việc để hình thành và trở thành “phong trào” có quy mô rất lớn là xuất lậu than. Tức là đã hình thành “lỗ hổng” trong cơ chế quản lý, khai thác, kinh doanh than, cũng như đạo đức cán bộ.
Và đó là một trong những nguyên nhân chủ chốt để Bộ Công thương phải dùng tới biện pháp cuối cùng: chấm dứt xuất than dưới mọi hình thức sang Trung Quốc. Có nghĩa, việc ngăn chặn ăn cắp than là không thể, nếu chỉ áp dụng các biện pháp quản lý thuần túy. Mà cần chặn hẳn “đầu ra”: xuất khẩu, thì mới hy vọng triệt tiêu được... đầu vào: than ăn cắp.
5/ Sữa độc
Scandan sữa nhiễm melamine từ Trung Quốc đã nhanh chóng lan sang Việt Nam kéo theo nỗi hoảng sợ ghê gớm. Người tiêu dùng không dám sử dụng các sản phẩm có nguồn gốc từ sữa. Và các nhà sản xuất có sử dụng sữa làm nguyên liệu lao đao khi sản lượng bán hàng sụt giảm thảm hại.
Vậy thì Bộ Y tế đã đóng vai trò gì, như thế nào... trong scandan sữa nhiễm melamine tại Việt Nam ? Có hàng chục loại sữa Trung Quốc đã được Bộ Y tế cho phép được nhập khẩu vào Việt Nam trước thời điểm tháng 8/2008. Nhưng khi vụ sữa nhiễm melamine đã bùng nổ tại Trung Quốc (8/2008), thì vẫn có quan chức của Bộ Y tế trả lời dư luận, rằng: “sữa melamine chưa phải là vấn đề của Việt Nam", và "chưa có sản phẩm sữa Trung Quốc nào nhập khẩu chính thức vào Việt Nam".
Sai lầm nối tiếp sai lầm. Sau khi cuống cuồng tổ chức kiểm tra các sản phẩm có nguồn gốc từ sữa trên thị trường cả nước, thì việc công bố kết quả kiểm tra, danh sách các sản phẩm có melamine – cũng do Bộ Y tế tiến hành – lại hết sức... nhỏ giọt. Lý do của sự nhỏ giọt này, do Bộ nêu, là thiếu người kiểm tra, xét nghiệm... Nhưng dù thiếu và chậm trong công bố, Bộ cũng không đảm bảo được tính chính xác của việc xét nghiệm melamine. Kết quả là đã có DN bị kết luận oan uổng, thậm chí DN phải tính tới phương án khởi kiện Bộ.
Kết quả hoạt động rõ ràng nhất của Bộ Y tế trong vụ sữa độc, là đẩy ngành sản xuất sữa nước nhà - bao gồm cả bà con nông dân chăn nuôi bò sữa và các DN kinh doanh, chế biến - vào cảnh tiêu điều, xơ xác, đối diện nguy cơ phá sản. Và vì thiếu, không có thông tin “chuẩn” do Bộ định hướng, người tiêu dùng đã lựa chọn phản ứng tiêu cực: “quay lưng” với sản phẩm sữa. Đó, là một phản ứng nguy hiểm, vì sữa đóng vai trò quan trọng đối với sức khỏe mỗi người, mỗi thế hệ, nghĩa là liên quan tới tương lai quốc gia. Vậy thì trong trách nhiệm của Bộ Y tế đối với sữa độc, có sự “đóng góp” của cơ chế quản lý hay không ?
Quốc Dũng