Ông chẳng phải là người tuổi Sửu, nhưng dù thế nào, trong năm Kỷ Sửu này, tôi vẫn muốn nói về ông. Bởi một lẽ đơn giản, ông là người đã ngồi trên chiếc “ghế nóng” trong năm cũ Mậu Tý, và chiếc ghế đó cũng đang “hứa hẹn” còn nóng tiếp trong năm mới đầy thử thách này.
Chẳng có một định nghĩa rõ ràng về “ghế nóng”, chỉ biết rằng đây là một danh từ để ám chỉ về một vị trí không mấy dễ dàng cho những người ngồi lên đó. Tôi còn nhớ, khi Bí thư Tỉnh uỷ Quảng Ngãi, ông Hồ Nghĩa Dũng được Quốc hội phê chuẩn giữ chức Bộ trưởng Bộ Giao thông-Vận tải (GTVT) hồi tháng 6-2006, nhiều người gọi “ghế” Bộ trưởng GT-VT là “ghế nóng”, bởi ngành GTVT vừa trải qua cơn “sóng thần” PMU18. Còn với ông, người mà tôi đang muốn nói đến trong bài viết này, cũng là người được điều động từ địa phương về gánh trọng trách ở một cơ quan trung ương từ tháng 8-2007, nhưng thời điểm đó không có nhiều người nghĩ đó là một chiếc “ghế nóng”. Thế nhưng, khi năm Mậu Tý sắp kết thúc, nhiều người phải thừa nhận, chức vụ Thống đốc NHNN chính là một chiếc “ghế” nóng nhất trong năm 2008 đầy biến động. Người tôi muốn nói đến chính là Thống đốc NHNN Nguyễn Văn Giàu.
Ông Giàu xuất thân từ chính ngành ngân hàng. Từ cán bộ tín dụng xã, lên cấp huyện, cấp tỉnh ở An Giang, thuộc hệ thống Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam (Agribank). Qua những câu chuyện kể lại, tôi biết ngay từ thời đó, ông đã có những quyết định táo bạo để phát triển mô hình cho hộ nông dân vay vốn làm kinh tế. Rồi ông ra Trung ương, làm Phó Tổng, rồi Tổng Giám đốc Agribank, và sau đó được rút lên làm Phó Thống đốc NHNN. Sau đó, ông lại được điều động về làm Bí thư Tỉnh uỷ Ninh Thuận, trước khi quay trở lại NHNN vào tháng 8-2007. Nhiều người bảo, ông Giàu có số vất vả. Trở lại nghiệp ngân hàng, ông chỉ có khoảng 3 tháng để bắt nhịp lại. Sau đó, những biến động của ngành ngân hàng, của thị trường tiền tệ cứ cuốn ông đi mãi đến cuối năm 2008. Giữa năm 2007, do chính sách nới lỏng tiền tệ từ nhiều năm trước để tăng trưởng kinh tế, dấu hiệu lạm phát đã nảy sinh. Ngân hàng Nhà nước đã dần siết lại bằng cách nâng tỷ lệ dự trữ bắt buộc từ 5% lên 10%. Nhưng như thế chưa đủ. Đến đầu năm 2008, chống lạm phát đã trở thành ưu tiên hàng đầu của Chính phủ. Khi đó, ông Giàu, với vai trò Thống đốc vừa nhậm chức, đã đưa ra quyết định thắt chặt tiền tệ ở mức cao hơn, nâng tỷ lệ dự trữ bắt buộc thêm 1%. Ông kể, lẽ ra sau đó sẽ còn tiếp tục nâng tỷ lệ dự trữ bắt buộc: “Nhưng sau đó chúng tôi bàn lại, và quyết định phát hành tín phiếu bắt buộc. Vì lãi suất tiền gửi dự trữ bắt buộc lúc đó chỉ 1,2%/năm, nếu tăng sẽ tạo giá thành vốn lớn hơn. Trong khi đó, phát hành tín phiếu bắt buộc với lãi suất cao hơn, vừa rút được tiền từ lưu thông về, vừa không gây áp lực lớn về giá vốn”.
Ông Nguyễn Văn Giàu: Chính sách tỷ giá là một bài toán khó của một quốc gia, chứ không phải chỉ của riêng Thống đốc Ngân hàng Trung ương |
Điểm nhấn quan trọng nhất trong chính sách tiền tệ năm 2008 là cơ chế điều hành lãi suất theo lãi suất cơ bản (được Ngân hàng Nhà nước đưa ra từ tháng 5-2008). Mặc dù cơ chế này, cũng có một số thời điểm không nhận được sự đồng thuận cao, nhưng không thể phủ nhận rằng, đây chính là “vũ khí” cơ bản để Ngân hàng Trung ương thực hiện thành công nhiệm vụ kiềm chế lạm phát. Và đến nay, khi nền kinh tế đối diện với nguy cơ suy giảm, lãi suất cơ bản giảm liên tục lại trở thành công cụ để hướng nguồn vốn ngân hàng tới các doanh nghiệp nhanh hơn. Một thành công khác của chính sách tiền tệ đậm “chất” Nguyễn Văn Giàu trong năm 2008 có thể kể đến là điều hành tỷ giá linh hoạt. Tỷ giá, ngoài phụ thuộc vào quan hệ cung - cầu thị trường, còn phụ thuộc vào nhiều cân đối lớn khác của nền kinh tế như xuất nhập khẩu, đầu tư trực tiếp và đầu tư gián tiếp nước ngoài, kiều hối, các khoản vay nợ quốc gia… Với Thống đốc Nguyễn Văn Giàu, điều hành chính sách tỷ giá là “một cuộc đấu tranh bền bỉ”. Từ năm 1999-2002, mỗi năm nước ta nhập siêu khoảng 1 tỷ đô-la Mỹ; giai đoạn 2003-2006, mỗi năm nhập siêu 5 tỷ đô-la. Đến 2007, nhập siêu tăng vọt lên đến 14,1 tỷ đô-la. Hồi tháng 6-2008, dư luận khá băn khoăn khi Ngân hàng Nhà nước chậm nới lỏng chính sách tỷ giá, trong lúc đã hình thành 2 tỷ giá trên thị trường. Đem những bức xúc này hỏi Thống đốc, ông chỉ nói “hãy chờ thêm”. Ngày 27-6-2008, biên độ giao dịch tỷ giá VND/USD được tăng từ ±1% lên ±2%. Sau đó, ông nói với tôi: “Không phải chúng tôi không nắm được biến động tỷ giá, nhưng phải đến khi xác định được sẽ kiềm chế nhập siêu năm 2008 dưới 20 tỷ đô-la Mỹ, Ngân hàng Nhà nước mới vào cuộc can thiệp”. Trước đó, được phép của Thủ tướng, ông đã công bố mức dự trữ ngoại hối của Việt Nam là 20,7 tỷ đô-la. Nếu nhập siêu dưới 20 tỷ đô-la, thì việc Ngân hàng Nhà nước can thiệp thị trường ngoại hối mới có hiệu quả.
Một số người ở Ngân hàng Nhà nước kể lại, vào giai đoạn cao trào làm chính sách chống lạm phát (khoảng tháng 5, tháng 6-2008), Thống đốc Nguyễn Văn Giàu khi đó, “trưa ăn cơm hộp, tối ăn mỳ, mỗi đêm chỉ ngủ vài tiếng”. Tôi hỏi ông: “Áp lực như vậy, có khi nào Thống đốc thấy mệt mỏi?”. Ông đáp, dứt khoát: “Nếu nhận thức được trách nhiệm, yêu cầu của đất nước, thì tôi phải cố gắng làm hết mình. Và muốn như thế, cũng cần có sự hết mình của tập thể cán bộ Ngân hàng Nhà nước”. Hỏi rằng chiếc “ghế nóng” có khi nào làm ông sợ, ông đáp: “Mình chỉ sợ khi mình tư lợi, mình làm sai. Còn nếu làm đúng thì đâu phải ngại”. Chia tay ông, tôi tránh hỏi thêm về năm 2009, vì tôi biết tính ông chỉ thích “làm trước, nói sau”. Ông chỉ nhấn mạnh với tôi từ “linh hoạt”, bởi theo ông trong bối cảnh diễn biến kinh tế thế giới còn phức tạp, không nên có một “kịch bản” nào cố định. Một năm đầy thử thách lại sắp đến với ông, một người tuổi Gà, nhưng thường phải làm việc của người tuổi Trâu. Nhưng tôi tin, đây chẳng phải là điều làm ông chùn bước!
Nguyên Khang