Ông Nguyễn Đức Thành - Phó Cục trưởng Cục quản lý cạnh tranh (Bộ Công Thương) khẳng định: Các doanh nghiệp không thể và không được áp dụng tư tưởng xuôi tay kiểu “sống chung với lũ” khi đối diện với các vụ kiện chống bán phá giá.
- Thưa ông, vụ kiện chống bán phá giá của Ấn Độ đối với các sản phẩm thép của Việt Nam mới đây đã là vụ kiện thứ bao nhiêu mà Việt Nam phải đối mặt? Có phải đây là hệ lụy từ xu thế lạm dụng các rào cản thương mại từ các nước?
Trước hết chúng ta cần làm rõ khái niệm rào cản thương mại và các biện pháp phòng vệ thương mại. Trên thực tế, các nước đều sử dụng các biện pháp phòng vệ thương mại bao gồm: Chống bán phá giá; chống trợ cấp và các biện pháp tự vệ thương mại khác. Hai biện pháp đầu tiên thường được áp dụng khi có các hoạt động thương mại không công bằng hoặc các hoạt động nhập khẩu ồ ạt từ các nước xuất khẩu (do lợi thế từ việc cắt giảm thuế) gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại tới các doanh nghiệp của nước nhập khẩu.

Và các các biện pháp tự vệ này chỉ trở thành rào cản thương mại khi một số nước lạm dụng nó để đối phó với hàng hóa từ các nước xuất khẩu. Vụ kiện chống bán phá giá của Ấn Độ đối với các mặt hàng thép của Việt Nam mới đây là vụ kiện thứ 39 mà các doanh nghiệp Việt Nam gặp phải kể từ năm 1994 đến nay. Cùng với Việt Nam còn có 23 bị đơn khác xuất khẩu thép vào Ấn Độ như Trung Quốc, Thái Lan, Australia…
- Vậy nguyên nhân nào khiến các doanh nghiệp phải đối mặt với các rào cản thương mại, thưa ông?
Có ba trường hợp khiến các doanh nghiệp trở thành đối tượng của các rào cản này. Thứ nhất là do hiện tượng Domino, đó là khi một nước A xem xét kiện chống bán phá giá đối với mặt hàng X từ nước B dẫn tới các việc áp dụng các biện pháp chống bán phá giá hoặc trợ cấp. Sau đó các nước khác cũng khởi kiện nước B vì các lý do tương tự. Thứ hai là do sự cộng gộp. Theo quy định của WTO, nước A chỉ được xem xét khởi kiện chống bán phá giá với hàng hóa của nước B khi thị phần hàng hóa ấy tại nước A đạt ngưỡng nhất định là 3%. Tuy nhiên các nước đứng ra kiện chống bán phá giá theo hướng cộng gộp thị phần mặt hàng X của tất cả các nước có xuất khẩu vào nước A. Nếu tổng cộng tất cả đạt 7% thì họ có thể khởi kiện tới tất cả các nước xuất khẩu. Nguyên nhân thứ ba và cũng rất phổ biến hiện nay đó là do tiến trình tự do hóa thương mại và khó khăn kinh tế chung trên toàn cầu đã khiến xu hướng lạm dụng các biện pháp tự vệ để bảo hộ sản xuất trong nước. Đây là nhóm các biện pháp được sử dụng nhiều nhất hiện nay. Có một điểm đáng chú ý là, trước đây chủ yếu các nước phát triển hay khởi kiện hàng hóa từ các nước đang phát triển, nhưng nay đã chuyển sang chính các doanh nghiệp từ các nước đang phát triển khởi kiện nhau.
Riêng đối với Việt Nam, có một điều đáng mừng là năng lực cạnh tranh của hàng hóa ngày càng nâng cao. Điều này có thể thấy rõ qua việc kim ngạch xuất khẩu tăng nhanh, hàng hóa xuất khẩu đa dạng và thị trường ngày càng mở rộng… Tuy nhiên, cũng chính vì những lý do này, chúng ta dễ dàng trở thành đối tượng mà các nhà sản xuất nội địa của các nước nhập khẩu để ý và khởi kiện. Chính vì thế, số lượng các vụ kiện chống bán phá giá đối với hàng hóa Việt Nam ngày càng tăng.
- Số lượng các vụ kiện ngày càng tăng, thế nhưng mức độ sẵn sàng của các doanh nghiệp đối với các vụ kiện này dường như còn chưa cao? Và vai trò của các cơ quan quản lý trong việc giúp doanh nghiệp đã được thực hiện tốt hay chưa?
Về thái độ của các doanh nghiệp khi đối diện với các vụ kiện, có rất nhiều ý kiến cho rằng nên “sống chung với lũ”. Nhưng tôi hoàn toàn không đồng ý với quan điểm này. Theo tôi, chính các doanh nghiệp phải là người chủ động và ứng xử với các vấn đề này theo 3 nguyên tắc. Thứ nhất: doanh nghiệp nên coi các biện pháp phòng vệ thương mại như một loại rủi ro trong kinh doanh và có sẵn phương án quản lý rủi ro ấy. Thứ hai: khi có vụ viện xảy ra, thay vì buông xuôi và lảng tránh nó, các doanh nghiệp cần có thái độ ứng xử tích cực. Kinh nghiệm từ việc cùng doanh nghiệp tham gia các vụ kiện chống bán phá giá trước đây cho thấy, nếu doanh nghiệp chủ động tham gia vào vụ kiện bằng cách tham vấn các cơ quan quản lý, chủ động đứng đơn kháng kiện… thì có thể hạn chế những thiệt hại, thậm chí là ngăn chặn được vụ kiện. Thứ ba và cũng rất quan trọng là: trong quá trình kinh doanh tại bất kỳ thị trường nào, doanh nghiệp cần coi trọng công tác tự cảnh báo, xem xét kỹ các nguy cơ để đưa ra phương án kinh doanh thích hợp như điều chỉnh tần suất bán, giá cả, thay đổi phương thức thanh toán… Đơn giản như việc nếu giá bán hàng của chúng ta thấp hơn quá nhiều so với hàng hóa của doanh nghiệp bản địa thì có thể xem xét việc tăng giá trong mức cho phép để tránh sự chênh lệch quá mức.
Về phía cơ quan quản lý, chúng tôi cũng thường xuyên tổ chức cung cấp thông tin, phổ biến cho doanh nghiệp cách nhận thức đúng đắn về vấn đề này bằng các cuộc hội thảo, tọa đàm, tập huấn… giúp cảnh báo sớm cho doanh nghiệp.
- Nói tới vấn đề cảnh báo sớm, các nước trên thế giới và chúng ta có thể có một cơ chế cảnh báo sớm để doanh nghiệp biết và chuẩn bị đối phó với các vụ kiện này?
Về cơ chế cảnh báo sớm, trên thế giới cũng chưa nước nào xây dựng được. Theo tôi biết thì hiện mới chỉ có Trung Quốc thành lập được một trung tâm chuyên thu thập thông tin và đưa ra cảnh báo cho các doanh nghiệp của họ. Còn với Việt Nam, chúng tôi cũng thực hiện việc này bằng cách thu thập thông tin, cung cấp cho doanh nghiệp các thống kê thương mại. Tôi lưu ý rằng, chính doanh nghiệp cũng phải nghiên cứu những thông tin thống kê này để thấy được các nguy cơ.
Tuy nhiên, để sẵn sàng với những vụ kiện này cũng cần phải có sự hợp tác từ các bên là doanh nghiệp, hiệp hội doanh nghiệp và cơ quan quản lý. Sở dĩ tôi nói vậy vì hiện ý thức của doanh nghiệp cũng như các hiệp hội về vấn đề này chưa cao. Doanh nghiệp chưa hiểu hết vấn đề và ứng xử một cách thụ động, lảng tránh. Thậm chí, có trường hợp khi vụ kiện xảy ra, doanh nghiệp còn buông xuôi và cũng không hợp tác với chúng tôi khi chúng tôi tìm đến doanh nghiệp để hỗ trợ.
- Từ trước tới nay, chúng ta mới chỉ nói nhiều đến việc hàng hóa Việt Nam bị kiện chống bán phá giá tại các nước khác, vậy chiều ngược lại thì sao, thưa ông?
Hiện tại, chúng ta đã có đủ điều kiện pháp lý và văn bản để áp dụng các biện pháp phòng vệ thương mại. Tuy nhiên, hiện doanh nghiệp vẫn chưa để ý và chưa thực sự quan tâm tới vấn đề này. Hơn nữa, công tác thống kê thương mại, quản lý thị trường của chúng ta vẫn còn nhiều bất cập, chính vì thế sẽ gây khó khăn khi doanh nghiệp quyết định khởi kiện đối với hàng hóa nước ngoài. Bởi chúng ta chưa thống kê và phân loại được cụ thể về cơ cấu hàng hóa nhập khẩu, lượng hàng nhập tiểu ngạch, hàng nhập lậu, hàng nhái, hàng giả…
Tuy nhiên, có một điều đáng mừng là ngày càng có nhiều doanh nghiệp tới tham vấn tại Cục Quản lý cạnh tranh về việc thực hiện các biện pháp khởi kiện chống bán phá giá đối với hàng hóa nhập khẩu. Trong thời gian sắp tới, nhiều khả năng vụ kiện chống bán phá giá đầu tiên đối với hàng hóa nước ngoài nhập khẩu vào Việt Nam có thể sẽ được thực hiện.
- Xin cảm ơn ông!
Thang Duy (thực hiện)