“Nếu là người Việt, chắc chắn Bill Gates sẽ biết cách làm sao để thu được nhiều nhất tiền từ bán sản phẩm hệ điều hành máy tính của hãng Microsoft”. Phát ngôn ấy không là “sản phẩm”của một chuyên gia phần mềm, một cán bộ an ninh mạng, hay một DN. Mà, là một cán bộ ngành... thuế. Và dường như nó sẽ làm những cán bộ ngành văn hóa, thể thao và du lịch - cơ quan chuyên giám sát vấn đề bản quyền phần mềm - phải buồn cười.
Nhưng “lý sự” của anh chàng cán bộ thuế thì chẳng buồn cười chút nào, nếu như không nói nó hoàn toàn nghiêm túc. Vị này đưa ra dẫn chứng từ chính ngành thuế. Đó chính là yêu cầu kê khai thuế qua mạng bằng phần mềm của Tổng cục Thuế. Ở nhiều địa phương, chẳng hạn như Hải Phòng, nếu DN không kê khai thuế bằng phần mềm này, mà khai bằng biểu mẫu cũ, thì cơ quan thuế sẽ từ chối không nhận báo cáo thuế hàng tháng của DN. Và yêu cầu DN phải kê khai theo mẫu mới của phần mềm. Ngoài ra, DN có thể đăng ký với cơ quan thuế để khai báo thuế trực tiếp qua mạng.
Để sử dụng phần mềm khai báo thuế, đương nhiên DN phải tiến hành cài đặt trên máy tính. Như vậy, nếu phần mềm khai thuế của Tổng cục Thuế có một đoạn mã kiểm tra của Microsoft, của Linux hay Ubuntu (các hệ điều hành máy tính)... thì bất kỳ “anh” hệ điều hành, phần mềm nào không có bản quyền cũng bị lôi ra bằng sạch.
Lý tưởng hơn, nếu có thêm dòng lệnh, rằng hệ điều hành máy tính của DN đang sử dụng là không hợp pháp, thì phần mềm khai báo thuế sẽ không thể cài đặt thành công.“Trong trường hợp ấy, thì DN sẽ buộc phải mua sản phẩm hệ điều hành có bản quyền” – vị cán bộ thuế này “kết luận”. Với vài trăm nghìn DN hiện đã đăng ký hoạt động, thì số tiền bản quyền phần mềm thu được chắc hẳn sẽ phải tăng theo... cấp số nhân.
Dĩ nhiên, “lý sự” của cán bộ thuế kia có thể bị liệt vào hàng... dở hơi trong tình hình thực tế tại VN. Nhưng cũng rõ ràng không kém, là nó cho thấy việc kiểm soát quyền sở hữu trí tuệ tại VN hoàn toàn có thể hiện thực hóa nếu xây dựng được cơ chế phối hợp giữa người sở hữu bản quyền phần mềm và nhà quản lý. Cần nói rõ, tại Hải Phòng hiện có trên 14.000 DN đăng ký hoạt động, nhưng chắc chắn, đa phần những báo cáo thuế của các DN này được thực hiện trên những máy tính cài đặt hệ điều hành đã bị “bẻ khóa”. Có nghĩa, DN đang sử dụng sản phẩm trí tuệ bị vi phạm bản quyền để “khai báo một cách trung thực về hoạt động của mình”. Hải Phòng là thế thì số DN cả nước trong tình trạng tương tự sẽ là bao nhiêu ? Và các cơ quan chức năng, các chủ sở hữu bản quyền phần mềm của VN liệu có cách nào khả dĩ để phối hợp, cùng nhau nâng cao hiệu quả, minh bạch hóa việc sử dụng phần mềm hay không ? Hơn 80 DN vừa “được” Thanh tra Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch nhắc nhở, cũng như vài DN bị xử phạt trong những năm trước đó, và cả mức phạt lên tới 500 triệu VND mới được áp dụng nếu vi phạm bản quyền phần mềm... liệu có nên coi là đã “nâng cao hiệu quả” trong bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ tại VN?
Câu chuyện hài hước của anh chàng cán bộ ngành thuế, hóa ra, lại đụng chạm tới thực tế “nhạy cảm” trong thực tế bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ tại VN. Nếu kể từ năm 2005 - thời điểm Luật Sở hữu trí tuệ được ban hành - đến nay, thì số lượng các vụ kiện, các vụ xử lý... vi phạm quyền sở hữu trí tuệ dù có tăng, nhưng vẫn thuộc hàng số ít.
Bên cạnh đó, số phát minh được đăng ký bảo hộ đã tăng, nhưng như đánh giá của chính các cơ quan chuyên trách thực hiện bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, vẫn là chưa nhiều so với thực tế.
Câu hỏi giản dị đặt ra từ thực tế này, là Luật Sở hữu trí tuệ đã có tác dụng thế nào tới thực tế bảo vệ sở hữu trí tuệ tại VN ? Dường như, lại trở thành khó trả lời. Và nếu ban hành luật mà lại không làm cho luật ấy phát huy hiệu quả, thì ban hành luật để làm gì?
|
Theo Uỷ ban Pháp luật của Quốc hội: Không nên giao cho cơ quan quản lý nhà nước về sở hữu trí tuệ tham gia hoạt động giám định sở hữu trí tuệ. Bởi vì, làm như vậy sẽ không bảo đảm sự khách quan, độc lập của hoạt động giám định, nhất là trong lúc cơ quan này đang quá tải trong xử lý đơn đăng ký sở hữu công nghiệp. Việc giám định về sở hữu trí tuệ phải được coi là một dịch vụ, do vậy cần nghiên cứu để xã hội hoá hoạt động này. Trước mắt, để làm tốt công tác giám định sở hữu trí tuệ, cần nghiên cứu thành lập các trung tâm hoạt động theo quy định của pháp luật về giám định (đơn vị sự nghiệp công lập) để làm nhiệm vụ này; đồng thời, có cơ chế giao cho các hiệp hội nghề nghiệp thực hiện. |
Quốc Dũng