Khủng hoảng kinh tế đã tác động rất lớn tới hoạt động xuất khẩu lao động (XKLĐ) của VN khi Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) dự báo trong năm 2009, toàn thế giới sẽ cắt giảm khoảng 210 triệu chỗ làm tập trung trong các lĩnh vực lâu nay vốn là thế mạnh của lao động xuất khẩu VN. DĐDN có cuộc trao đổi với ông Đào Công Hải - Phó Cục trưởng Cục Quản lý lao động nước ngoài xung quanh vấn đề này.
Ông Hải cho biết, mục tiêu 90.000 lao động xuất khẩu mà chúng ta đề ra trong năm 2009 chắc chắn sẽ phải điều chỉnh giảm xuống cho phù hợp với tình hình thực tế bởi các quốc gia có lao động VN bị ảnh hưởng của khủng hoảng, giảm thiểu sản xuất từ 25 – 30%, kể cả các quốc gia có GDP cao như Hàn Quốc, Nhật Bản. Các thị trường khác như Malaysia, Đài Loan đều cắt giảm lao động hàng loạt, chủ yếu ở các ngành như sản xuất phụ tùng ôtô, điện tử, may mặc...
- Với 90% là lao động tay nghề thấp, lao động VN chịu ảnh hưởng từ sự cắt giảm này chắc chắn cao hơn các quốc gia khác, thưa ông ?
Lao động VN nằm trong 4 nhóm đối tượng lao động bị tác động bởi sự cắt giảm tại các nước là: lao động tay nghề thấp, dân nhập cư cùng sinh viên ra trường, người cao tuổi. Tuy nhiên, lao động VN XKLĐ chủ yếu làm việc tại các DNNVV, loại hình DN thích ứng, chuyển đổi nhanh nên lao động có cơ hội chuyển đổi ngành nghề. Bên cạnh đó, bản tính chịu khó tiếp thu, cần cù, siêng năng của lao động VN là một lợi thế so với nhiều lao động các nước khác. Do vậy, dù yếu thế so với lao động điạ phương do khủng hoảng tài chính, giảm thiểu sản xuất, giảm thiểu tuyển lao động nước ngoài, nhưng vì có những lợi thế trên nên lao động VN bị giảm thiểu so với tổng chung là rất nhỏ, khoảng trên 8.000
lao động về nước.
- Thưa ông, việc giải quyết lao động cho hơn 8.000 lao động về nước là một bài toán nan giải bởi ước tính ngay lao động trong nước năm 2009 mất việc có thể lên tới con số gần 300.000 lao động ?
Khi xảy ra tình trạng lao động bị cắt giảm ở các thị trường, Cục đã chỉ đạo các DN phải nắm bắt nhanh các chính sách hỗ trợ của nước bạn như một số nước có chính sách hỗ trợ chuyển việc. Hàn Quốc, Nhật Bản có chính sách chia sẻ công việc bằng cách giảm giờ làm, bình quân việc làm cho lao động để giữ được nguồn lực lao động khi thời kỳ khủng hoảng đi qua. Ở những thị trường mà VN đưa lao động đi nhiều như Đài Loan, Nhật Bản, Hàn Quốc trong trường hợp 2 - 3 lần không chuyển được việc thì mới phải về nước.
- Thực tế là những DN XKLĐ mạnh, tiềm lực và uy tín có khả năng giúp người lao động bị cắt giảm về nước đòi bồi thường hợp đồng, chế độ bảo hiểm... Còn nhiều DN nhỏ không đủ khả năng làm việc này gây nên những vụ tranh chấp, kiện tụng giữa người lao động và DN. Cục Quản lý lao động ngoài nước có thống kê số vụ tranh chấp này ?
Tôi có thể khẳng định, với các chính sách hỗ trợ của các nước có lao động xuất khẩu của VN, thì bất kể là DN lớn hay DN nhỏ được phép XKLĐ đều thực hiện được hoạt động này chứ không chỉ những DN lớn. Tuy nhiên, thực tế là người lao động bị cắt giảm về nước gần như 100% đều đòi bồi thường lại 100% số tiền mà họ đã bỏ ra mà không tính đến chi phí không nhỏ mà DN phải trang trải trong quá trình đưa người lao động đi XKLĐ, như chi phí đào tạo, ngoại ngữ, định hướng nghề nghiệp, môi giới, vé máy bay... Chính vì vậy mới xảy ra tình trạng tranh chấp. Tuy nhiên, quá trình thoả thuận giữa hai bên cùng các kênh báo chí, Sở LĐTBXH tại địa phương người lao động cư trú, Cục QL LĐ NN và cơ quan công an cũng đã giải quyết phần nào tình trạng này.
- Chính sách hỗ trợ cho từng đối tượng lao động về nước sẽ được thực hiện như thế nào, thưa ông ?
Lao động xuất khẩu về nước được chia thành 3 nhóm đối tượng: các lao động làm việc trên 1 năm (chiếm khoảng 65 – 70%), lao động làm việc từ 6 - 12 tháng (khoảng 20%) và lao động dưới 6 tháng (khoảng 10%). Trong đó, khó khăn nhất là những lao động mới xuất khẩu dưới 6 tháng vì họ mới hoà nhập công việc, chưa có thu nhập đáng kể, chi phí cho thủ tục khám sức khoẻ, học ngoại ngữ, nâng cao tay nghề... chưa thể hoàn lại mà vẫn là khoản vay từ các NHTM, ngân hàng chính sách.
- Vậy trách nhiệm của DN đưa những lao động này đến đâu, thưa ông ?
Có thể nói, việc lao động xuất khẩu phải về nước trong tình hình hiện nay là rủi ro cho cả phía DN và người lao động. Vì vậy, lao động sau khi thanh lý hợp đồng, từng đối tượng sẽ được hỗ trợ theo Quyết định 30 hỗ trợ các DN, người lao động trong thời kỳ bị ảnh hưởng của khủng hoảng là: vay để đảm bảo được học nghề; vay để tham gia sản xuất, tạo dựng DN, kinh tế hộ gia đình; trường hợp nếu có nhu cầu đi lao động tiếp vẫn được vay vốn.
- Tuy nhiên, có vấn đề phát sinh là các NHTM hiện nay không cho người đi lao động xuất khẩu vay khi chưa trả khoản nợ của chương trình cũ ?
Vấn đề này chúng tôi cũng đang đề nghị các cơ quan xem xét khoanh nợ, giãn nợ cho người lao động. Bên cạnh đó, thực hiện giải pháp tốt nhất là các DN sau khi thanh lý hợp đồng xong định hướng và tạo điều kiện cho số lao động này sau khi về lại tiếp tục đi làm việc ở các nước khác.
- Theo phản ánh của nhiều DN, yếu tố tác động tới lao động về nước, thu nhập không cao khiến người lao động không mặn mà đi XKLĐ, dẫn đến hoạt động XKLĐ hiện đang rơi vào tình trạng cung nhiều hơn cầu, một số thị trường đóng băng như Nhật, Czech ?
Tính đến cuối tháng 5/2009, chúng ta mới đưa đi được trên 28 ngàn lao động ở các thị trường khác nhau: Đài Loan, Malaysia, Hàn Quốc, Nhật Bản, Ma Cao, LB Nga, Libi, UEA... Giảm nhiều so với cùng kỳ năm ngoái. Tuy nhiên, việc phát triển số lượng đầu ra đưa đi XKLĐ còn phụ thuộc vào cầu nước ngoài ở các thị trường khác nhau với việc yêu cầu trình độ lao động khác nhau. Một số thị trường đòi hỏi lao động trình độ cao chúng ta lại chưa đáp ứng được.
- Thực tế đó đã dẫn đến tình trạng một số DN khi tìm được thị trường, khó tìm nguồn đành phải đào tạo chớp nhoáng lao động không đúng với quy định để đưa kịp hợp đồng XKLĐ, thưa ông ?
Việc làm này chẳng khác gì con dao hai lưỡi, bản thân nguồn lao động mà DN không chuẩn bị tốt tức khắc rủi ro sẽ xảy ra. Bản thân DN được cấp phép nếu DN làm ăn không đúng bài bản chắc chắn sẽ bị gặp rủi ro, và đặc biệt thương hiệu của họ bị ảnh hưởng, giẫm đến việc khó tiếp cận với người lao động ở các địa phương.
Trong tổng số trên 163 DN có giấy phép hiện nay, nếu DN nào có chủ trương “ăn xổi ở thì” thì cũng mau chóng bị đào thải bởi theo quy định, trong 1 năm nếu DN không đưa được 100 lao động đi XKLĐ thì giấy phép sẽ bị rút. Bên cạnh đó, một DN khi có hợp đồng ngoại để đưa lao động đi thì phải đăng ký với Cục Quản lý LĐNN để thẩm định. Và có phiếu trả lời có cho thực hiện hay không. Chính vì vậy, người lao động trước khi ký kết đi LĐXK với DN nào đó có quyền đòi hỏi DN cho biết giấy chứng nhận đi theo hợp đồng nào để hạn chế rủi ro. Người lao động nên tìm hiểu thông tin qua Ban chỉ đạo XKLĐ của địa phương, Sở LĐTBXH, hoặc đường dây nóng của Cục QLLĐNN, tránh tình trạng bị nhiều cá nhân, tổ chức lợi dụng lừa đảo thu tiền bất chính, gây thiệt hại cho người lao động.
- Xin cảm ơn ông.
|
Ông Nguyễn Hồng Sơn - Phó Tổng giám đốc Cty CP Tiến bộ quốc tế AIC :
Nhiều khó khăn cần tháo gỡ
Có thể nói, Đề án 71 của Chính phủ về việc hỗ trợ người nghèo ở 61 huyện nghèo đi XKLĐ góp phần giảm nghèo bền vững từ nay đến năm 2020 là cơ hội cho DN hoạt động XKLĐ trong việc thêm nguồn lao động. Tuy nhiên, hiện có một số khó khăn khi triển khai, đó là: lao động không có tay nghề, trình độ học vấn hạn chế, thậm chí nhiều người không biết tiếng Kinh, rất khó tiếp cận kiến thức mới, kỷ luật và tác phong công nghiệp rất yếu, ý thức cần kiệm và vượt khó của bà con không cao, phong tục tập quán sinh hoạt gần với núi rừng bản làng nên bà con rất ngại đi xa. Tất cả những khó khăn trên dẫn đến chất lượng nguồn lao động cho XKLĐ bị hạn chế.
Vì vậy, Nhà nước cần có chính sách, biện pháp cụ thể như tuyên truyền vận động, lựa chọn kỹ càng, đào tạo nghiêm khắc để lựa chọn được các lao động phù hợp, tránh chạy theo số lượng đơn thuần. Bên cạnh đó, cần có chế tài ràng buộc trách nhiệm gia đình, cộng đồng trong việc giáo dục, động viên quản lý lao động trong suốt thời gian từ khi đăng ký đến khi hoàn thành hợp đồng về nước và sử dụng lại số lao động này sau khi ở nước ngoài trở về. Đặc biệt, Chính phủ và các ban ngành cần có chính sách giúp DN giải quyết những rủi ro khi thực hiện chương trình tại các huyện nghèo, nhất là rủi ro có thể xảy ra khi lao động ăn học, làm hồ sơ giấy tờ rồi nhưng có thể rủ nhau bỏ hàng loạt không tham gia chương trình (DN khi đó chi trả các chi phí rồi cần được Nhà nước hỗ trợ thu hồi chi phí này) hay rủi ro khi lao động ra nước ngoài không chịu làm việc xin về trước hạn...
Tôi cũng muốn nói thêm việc quản lý thông tin hai chiều trong quá trình thực hiện chương trình cần phải được cập nhật và thông tin hai chiều rõ ràng: Cty, Bộ LĐTBXH, người lao động và thân nhân lao động... để luôn có bức tranh khách quan về công tác XKLĐ, không được để những đối tượng xấu lợi dụng kích động, tuyên truyền ngược với chủ trương chính sách của Chính phủ khi có những rủi ro phát sinh. Mặt khác, cần chọn DN có uy tín và kinh nghiệm triển khai chương trình, yêu cầu các DN thực hiện đầy đủ trách nhiệm với người lao động. Đối với AIC, tác động của cuộc khủng hoảng trên phạm vi toàn cầu trong thời gian qua, khoảng hơn 200 lao động của AIC đã về nước trước hạn. Những lao động này cũng đã được DN cố gắng hết sức trong việc thanh lý hợp đồng, sắp xếp tiếp tục đi lao động theo hợp đồng mới. Tuy nhiên, Quỹ hỗ trợ XKLĐ của Chính phủ cần quan tâm đến các lao động bị mất việc làm ở nước ngoài về trước hạn do nhà máy phá sản thu hẹp sản xuất... tạo điều kiện cho người lao động ổn định cuộc sống và ổn định tình hình chung.
Ông Nguyễn Xuân Vui - Chủ tịch HĐQT kiêm TGĐ Cty CO DV&TM hàng không (Airseco):
DN chủ động đào tạo
Theo tôi, trong bối cảnh thị trường XKLĐ bị thu hẹp như hiện nay, ngoài việc các DN phải chủ động thì các cơ quan quản lý cũng phải có định hướng cụ thể về từng thị trường. Từ đó thẩm định thật kỹ càng trước khi cho phép các DN đưa người LĐ sang các nước đó. Nhiều DN, người LĐ cứ nghĩ là thị trường A tốt, nhưng thực tế lại không phải vậy. Vì thế việc định hướng cho DN và NLĐ tình hình của từng thị trường cụ thể, từ đó hướng DN khai thác được những thị trường tốt là rất quan trọng. Mặt khác, hiện số lượng các Cty, chi nhánh, VPĐD làm XKLĐ cũng quá nhiều, trong khi chất lượng không đồng đều, ảnh hưởng đến quyền lợi của NLĐ. Vì vậy, các cơ quan quản lý cũng nên rà soát lại. Tôi cũng nhất trí việc các DN không nên “ăn xổi” , nhất là trong vấn đề đào tạo tay nghề cho người lao động.
Dù thị trường XKLĐ đang giảm mạnh, nhiều DN đang gặp khó khăn nhưng Airseco vừa đón nhận nhiều tin vui, nhất là mức lương, trợ cấp của các công nhân do Cty đưa sang làm việc tại Dubai (UAE) vừa được tăng lên 150%, vào khoảng 1.500 HS/tháng (khoảng 7,4 triệu đồng) thay vì 1.000 HS/tháng như trước đây. Bên cạnh đó, từ nay đến cuối năm 2009, Cty sẽ tuyển thêm khoảng 3.000 lao động cho thị trường này. Hàng tháng, phía đối tác sẽ về VN để kiểm tra tay nghề, tuyển dụng lao động và đưa sang Dubai làm việc và Cty miễn toàn bộ những chi phí cho người lao động như phí đào tạo... ( Trích từ lãi của Cty). Có được điều đó là nhờ Cty chủ động định hướng thị trường, nhất là những thị trường mới như Trung Đông chẳng hạn kết hợp với việc đào tạo tay nghề tốt cho người lao động. Khoảng 3 - 4 năm về trước, Airseco rất vất vả tìm kiếm lao động có tay nghề, kể cả vào tận các trường đào tạo nghề nhưng phần lớn đều không đáp ứng được nhu cầu, nặng về lý thuyết, thiếu thực hành và Cty cũng phải đào tạo lại. Chính vì vậy, Cty chủ động chuyển sang tự đào tạo, đào tạo theo đúng địa chỉ và ưu tiên 90% cho việc thực hành trên mô hình như thật, với thiết bị phù hợp với thị trường mà Cty sẽ đưa người lao động sang làm việc. Ví dụ như đầu tư hệ thống máy khâu, máy dệt của Nhật Bản, máy hàn công nghệ cao của Italia (phù hợp với thực tế thị trường Trung Đông). Cty không hạn chế về chi phí đầu tư, thực hành, miễn sao người LĐ học được. Chính vì vậy, tỷ lệ thi trượt của các học viên lần thứ nhất chỉ khoảng 5%. Tương tự là việc đào tạo LĐ trong lĩnh vực xây dựng. Làm vậy, đầu tư ban đầu tương đối lớn, nhưng thu lại nhanh, người lao động không bỡ ngỡ với thực tế khi sang các nước này làm việc. |
Phương Thảo thực hiện