Trong phòng thi một lớp đại học tại chức, sinh viên Trọng Nhân vừa cắm cúi hoàn thành bài thi của mình, vừa... nhăn nhó bởi phải tìm những điểm tiến bộ của Luật Bảo vệ môi trường để đưa vào bài thi. Khổ nỗi, vốn là một cán bộ cơ quan quản lý nhà nước ngành tài nguyên, môi trường, hơn ai hết cậu hiểu sự “tù mù” trong vận dụng thực tiễn của luật này.
Cơ hội !
Thực ra, Nhân chẳng dại gì đi chê luật, yêu cầu của ngành với vị trí của cậu - một cán bộ ngành tài nguyên môi trường tại địa phương - trước tiên phải là chấp hành luật. Và, Nhân cũng hiểu rằng, giả sử nếu cậu đưa sự “dở hơi” – như cậu hiểu – về Luật Bảo vệ môi trường, cũng như rất nhiều luật khác liên quan tới luật này, thì cậu dường như sẽ trở thành loại... dở hơi trong mắt lãnh đạo và cộng sự. Đầu tiên là sự trùng lặp nội dung quản lý giữa các luật. Chẳng hạn, Luật Tài nguyên nước (ban hành năm 1998) có chương II về Bảo vệ Tài nguyên nước. Chương này gồm 10 điều, quy định các nội dung về bảo vệ các nguồn tài nguyên nước sử dụng trong nông nghiệp, dân sinh và sản xuất..., cũng như quyền lợi, nghĩa vụ của các tổ chức, cá nhân sử dụng nguồn nước... Nhưng tại Luật Bảo vệ môi trường, việc bảo vệ các nguồn tài nguyên này cũng “đồng thời” được quy định tại chương II về Bảo vệ môi trường biển, nước sông và các nguồn nước khác, Chương này bao gồm 11 điều khoản với 3 mục chính. Nội dung không khác biệt nhiều so với các điều khoản quy định tại... Luật Tài nguyên nước ?
Tình trạng trùng lặp tương tự cũng diễn ra trong quan hệ giữa Luật Bảo vệ môi trường với Luật Thủy sản (ban hành năm 2003). Người ta sẽ không thể hiểu nổi vì sao, những quy định về bảo vệ môi trường trong nuôi trồng, đánh bắt, khai thác thủy sản lại “nhất thiết” phải thể hiện, hoặc lặp lại “đầy đủ” trong Luật Bảo vệ môi trường. Hay ngược lại, nếu Luật Bảo vệ môi trường được sửa đổi, ban hành (2005) sau Luật Thủy sản, thì những quy định tại Luật Thủy sản lại phải... giữ nguyên. Vậy nếu có vụ việc liên quan tới vi phạm bảo vệ môi trường trong nuôi trồng, đánh bắt thủy sản, thì phải áp dụng luật nào ?
Tất nhiên, luật trùng lặp, chồng chéo thì việc vận dụng thực tế sẽ nhất định... khó khăn. Nhưng đó là suy luận máy móc, lý thuyết. Vì thực tế, trong nhiều trường hợp, nó lại trở thành cơ hội “biểu diễn” của không ít cán bộ. Chẳng hạn, khoản 2 điều 11 (Hủy hoại đất) của Nghị định 182/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai quy định xử phạt tới mức 30 triệu VND với hành vi gây ô nhiễm đất. Đây là nghị định nhằm phục vụ việc thực hiện Luật Đất đai 2003. Tuy nhiên, Điều 21 (Vi phạm quy định về ô nhiễm đất) của Nghị định số 81/2006/NĐ-CP ngày 9/8/2006 về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường – Nghị định hướng dẫn thực hiện Luật Bảo vệ môi trường – lại quy định mức phạt có thể lên tới... 70 triệu VND ? Sự chồng chéo, không thống nhất sẽ dẫn tới kết quả là việc áp dụng quy định nào, mức phạt nào... sẽ phụ thuộc vào quan điểm chủ quan của người có thẩm quyền. Và trong không ít trường hợp, quy định của luật không quan trọng bằng cái gật, hay lắc của cán bộ trước hành vi sai phạm của DN. Tính nghiêm minh của luật pháp đã bị thay thế, bị vô hiệu hóa và chỉ phục vụ cho một vài cá nhân.
Dài và... dở
Dù là văn bản pháp quy, nhưng Luật Bảo vệ môi trường lại là một trong những trường hợp được đánh giá là đạt “chuẩn” dài và dở. Dẫn chứng đầu tiên lấy ngay từ một nội dung quan trọng của luật này. Đó là quy định về đánh giá tác động và cam kết bảo vệ môi trường. Về nguyên tắc, Luật Bảo vệ môi trường yêu cầu mọi dự án đều phải lập đánh giá tác động môi trường và cam kết thực hiện các giải pháp chi tiết, cụ thể bảo vệ môi trường. Phương án đánh giá, bảo vệ môi trường trong dự án này sẽ do một hội đồng - với thành phần gồm đại diện của các ngành chức năng – “chấm”. Yêu cầu này có vẻ hợp lý nếu nhìn nó chỉ riêng trong luật. Nhưng pháp luật VN, cũng như các nước khác, không cho phép chủ đầu tư tự thiết kế, thực hiện dự án theo... ý thích. Yêu cầu mặc định với mỗi dự án là đều phải thiết kế, xây dựng, vận hành đúng với tiêu chuẩn ngành của VN và tiêu chuẩn do chủ đầu tư lựa chọn áp dụng. Mà, trong mỗi tiêu chuẩn bao giờ cũng đã bao gồm cả yêu cầu về bảo vệ môi trường. Như vậy, nếu các tiêu chuẩn chung, tiêu chuẩn ngành đã có đủ, đã chi tiết, chủ đầu tư đã đáp ứng nghiêm túc những yêu cầu của tiêu chuẩn ấy, thì vấn đề môi trường của từng dự án đương nhiên đã đầy đủ. Và môi trường của dự án cũng sẽ giải quyết tốt trong quá trình thực hiện.
Từ đây sẽ thấy, yêu cầu dự án phải lập bản đánh giá tác động và cam kết bảo vệ môi trường đặt ra trong Luật Bảo vệ môi trường là... không cần thiết. Mặt khác, nếu toàn bộ các yêu cầu của Luật Bảo vệ môi trường với dự án đã được thể hiện cụ thể, chi tiết trong báo cáo đánh giá, cam kết và thực hiện thực tế của DN, thì tại sao chính luật này lại phải đặt hẳn một chương V có tên Bảo vệ môi trường trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ? Phải chăng đó là sự... thừa ngay chính trong nội dung luật này? Nỗ lực chi tiết hóa, phải có bằng được những yêu cầu đã có, đã chịu điều chỉnh tại quy định khác đã biến Luật Bảo vệ môi trường thành một dạng luật chung, điều chỉnh những quy định luật khác... Trong khi, Luật Bảo vệ môi trường không được thiết kế theo hướng luật chung.
Dĩ nhiên, một quy định được phân cấp thế nào không quan trọng bằng hiệu quả áp dụng thực tế của nó. Mà nếu nhìn từ góc độ này, thì có thể nói rằng, hiệu quả áp dụng thực tế của Luật Bảo vệ môi trường là đáng thất vọng. Không chỉ vì những tác động tiêu cực của nó tới sản xuất kinh doanh như vụ việc với thép phế, hay phát sinh “giấy phép con” về đánh giá, cam kết môi trường mỗi dự án... Những vụ việc như VEDAN... cho thấy sự bất lực của luật này trong xử lý sự cân bằng giữa quyền lợi xã hội, quyền lợi người dân với quyền lợi DN. Vậy thì tại sao phải... khen nhỉ ?
Quốc Dũng