Ông không chỉ nổi tiếng vì từng là một nhà ngoại giao lịch lãm, giỏi cả hai tiếng Anh – Pháp mà còn vì đã từ chức Phó Giám đốc Sở Kế hoạch và Đầu tư TP HCM để về làm một doanh nhân “dân thường”. Nay ông là linh hồn của doanh nghiệp tư vấn đầu tư DNL Partners.
Nhiều trăn trở về pháp luật
- Thưa ông, đang làm lãnh đạo ở những cơ quan công quyền, nghĩa là đã quen với quyền lực, bây giờ về làm doanh nhân, ông thấy có gì khác?
Ông Lương Văn Lý: Uy tín của tôi xây dựng những năm qua là nhờ có chuyên môn, nghiêm túc, đáng tin cậy. Cái đó gọi là tài sản, không là quyền lực. Còn dĩ nhiên làm tư nhân thì không có kiểu “đặc quyền công chức”.
- Ông thấy khó khăn nhiều hơn không?
Khó, nhưng không phải vì bản chất làm tư nhân khó hơn làm nhà nước. Khó về làm ăn, do những quy định pháp luật không đầy đủ rõ ràng, càng ngày càng bất cập vì nhu cầu xã hội ngày càng phong phú đa dạng. Kinh doanh xuất hiện nhiều loại hình mà luật không đề cập đầy đủ. Đặc biệt trong lĩnh vực dịch vụ. Nhiều loại hình kinh doanh mới nhưng chính quyền không chuẩn bị cho nó, một thời gian dài buông lỏng quản lý, thí dụ trò game mạng – đến khi báo chí nhao nhao lên thì đã có hậu quả xấu. Mới giật mình, siết, ngăn, hạn chế, cũng không phân biệt được cái nào cho phát triển, cái nào hạn chế, kiểm soát. Doanh nghiệp khốn khổ. Rồi sẽ xuất hiện nhiều thứ nữa. Báo chí phê phán hiện tượng đưa tính dục vào nghệ thuật. Lại cũng là một chuyện không chuẩn bị gì cả. Văn hóa, luật pháp không có gì sẵn sàng ứng phó.
Ông Lương Văn Lý: “Tôi đánh giá năm 2008 với Việt Nam là năm trả giá. Mà trả một năm không xong 2008 là năm gồng mình chịu đựng” |
- Những khó khăn đó do luật lệ hay do người thi hành gây ra?
Cả hai. Pháp luật diễn biến chậm, bất cập. Vai trò những người thi hành lớn quá. Lẽ ra doanh nghiệp chỉ cần thực hiện nghiêm luật pháp là đủ thì thực tế có khi lại lệ thuộc vào buồn vui, vào trình độ, thậm chí thiện chí của các vị công chức. Cái đó khó nhất. Một ông chuyên viên bình thường của quận, huyện, các ngành, thậm chí cả ngành văn hóa thông tin, cũng có thể làm khó dễ doanh nghiệp.
- Là một doanh nhân, ông đánh giá thế nào về tương lai của cơn khủng hoảng kinh tế?
Xu thế suy nghĩ chung của nhiều người là cơn bão sẽ kéo đến cuối 2009, có trường phái nói giữa 2010. Chủ yếu là khả năng phục hồi của kinh tế Mỹ vì nó là đầu tàu. Trong chừng mực nào đó có kinh tế của Nhật, Châu Âu. Tôi đánh giá năm 2008 với Việt Nam là năm trả giá. Mà trả một năm không xong. 2009 là năm gồng mình chịu đựng.
- Với tư cách một nhà tư vấn, ông có nhận xét gì về lĩnh vực đầu tư?
Đầu tư nước ngoài vẫn tốt, dự án nhiều, khách hàng nhiều. Năm ngoái số vốn đăng ký lên tới trên 60 tỉ USD, nay chậm lại, nhiều nhà đầu tư tạm dừng các dự tính. Nhưng kinh tế về cơ bản vẫn tốt, nợ nước ngoài trong vòng kiểm soát, dự trữ ngoại tệ an toàn. Cán cân thương mại, chi tiêu mất cân đối nhưng ở tỷ lệ chấp nhận được so với GDP…
- Ông làm tư vấn đầu tư, thấy doanh nghiệp nước ngoài than gì ngoài “hành chính là bài ca muôn thuở”?
Họ than phiền thiếu nhân lực, đặc biệt nhân lực quản lý. Loại trưởng phòng, giám đốc người Việt rất khan hiếm. Họ phải mướn Việt kiều, nước ngoài, chi phí cao. Sau khi Intel vào, họ than tìm không đủ nhân viên kỹ thuật cao. Xưa nay mình chỉ nhấn mạnh công nhân lành nghề. Nay phát triển kinh tế còn nhiều đòi hỏi khác. Thứ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Cao Viết Sinh có nhắc tới 3 “nút cổ chai” của phát triển: nhân lực, hạ tầng cơ sở, bộ máy quan liêu hành chính. Theo tôi còn cần thêm cả về pháp lý nữa. Vì đó là lĩnh vực hiện nay cực kỳ phức tạp. Thay đổi liên tục. Mỗi lần thay đổi như một lần trở dạ. Vất vả, thiệt hại kinh khủng. Luật đầu tư 2008 ra đời 6 tháng sau vẫn chưa có nghị định thi hành. Doanh nghiệp chạy lên xuống năn nỉ, nhà nước lúng túng. Hội nhập quốc tế rồi còn như thế đúng là cực khổ cho cả doanh nghiệp và nhà nước. Vì có cái nào hoàn chỉnh đâu. Làm luật vừa xong là lạc hậu rồi. Luật Đầu tư và Luật Doanh nghiệp đá nhau.
- Ông là một doanh nhân nhưng có nhiều nỗi bức xúc về văn hóa - xã hội?
|
Vẫn còn ít dự án đào tạo nhân lực cho lĩnh vực tư nhân để đủ tầm cạnh tranh với đối thủ thế giới |
Do điều kiện xã hội chung, những chuẩn mực đạo đức ngày càng mờ nhạt. Ranh giới đúng sai rất khó phân biệt. Áp lực xã hội bây giờ chuẩn mới là thực dụng, hiệu quả đo bằng tiền, quyền lợi vật chất. Giá trị cơ bản nhất của cuộc sống con người là gia đình bị xói mòn. Đó chính là sự trả giá mà khủng hoảng kinh tế thế giới chỉ là chất xúc tác làm vấn đề hiện rõ lên thôi, chứ sớm muộn cũng phải xảy ra.
- Ông có còn xuất ngoại nhiều như trước đây nữa không?
Tôi ít đi lắm. Năm vừa rồi một chuyến đi Tây Ban Nha, một chuyến đi Singapore. Trong nước đi Hà Nội vài lần. Thực ra tôi muốn ở Sài Gòn nhiều để củng cố công ty. Khó khăn kinh tế, tôi càng muốn “bám trụ” nhiều hơn.
- Chắc bây giờ ông ít phải tham gia hội nghị họp hành và phát biểu như hồi còn làm nhà nước?
Tôi tham gia Hội đồng quản trị một số công ty nên cũng có dự một số hội nghị, tham gia ý kiến.
- Phát biểu nào gần đây ông gửi nhiều tâm huyết nhất?
Ở hội nghị tổng kết 30 năm hợp tác Bỉ - Việt. Họ mời tôi ở vai trò đại diện khu vực tư nhân trong hợp tác hai nước. Tôi đầu tư nhiều suy nghĩ cá nhân nhất, vì phải đề ra biện pháp, chứ không chỉ như trước đây phát biểu tình hình kinh tế đầu tư mang tính chất đối ngoại, hoặc quảng cáo cho người ta đầu tư vào nhiều.
- Thí dụ ông đề xuất gì cụ thể?
Vấn đề đào tạo. Nguồn ODA thường được các nước chú trọng dành cho hạ tầng cơ sở, đường, xử lý rác thải… nhưng lĩnh vực tư nhân cần được đào tạo sao cho có thể cạnh tranh với đối thủ thế giới. Kỹ năng quản lý, nghiên cứu thị trường, luật pháp vẫn còn ít dự án quan tâm. Nên lập trung tâm đào tạo Việt - Bỉ. Tôi nói: “Với các ông, lĩnh vực tư nhân là thời thượng nhưng ở Việt Nam, doanh nghiệp quốc doanh lớn hơn nhiều. Nếu chỉ nói khuyến khích tư nhân chung chung thì lại “béo” các doanh nghiệp nước ngoài, không “anh” Việt Nam nào tư nhân mà lọt vào dự án được”.
- Còn quy hoạch về xây dựng, hai lĩnh vực hay nghe người ta kêu ca nữa?
Đúng là cái nạn, nhất là với Sài Gòn, Hà Nội. Ở đó cho xây gì, sử dụng đất bao nhiêu… Trời ơi những thứ ấy như cái rừng, đụng đâu khổ đó. Thí dụ như Sài Gòn quận 1, quận 3 mà khoanh vùng quy hoạch lại trung tâm tới 900ha cho khoa học hiện đại. Thời gian chờ thông qua quy hoạch là đóng băng hết. Mà nhiều khu xuống cấp nhếch nhác, giới đầu tư chịu, bị treo, không ai làm gì được.
Người không bị stress
- Phải giải quyết rất nhiều công việc như thế, nhưng ông là người tự nhận mình không bị stress. Đó có là một thành công do rèn luyện được?
Đó là khả năng tự nhiên của tôi, không giải thích được. Tôi để lại Sở cũ 4 chữ: hết sức bình tĩnh. Bối rối nổi nóng đương nhiên ai cũng có, nhưng ngắn thôi.
- Hay đó là đặc tính thu được sau rất nhiều năm ông làm ngoại giao?
Do bẩm sinh thôi. Nghề ngoại giao cho thấy ích lợi to lớn của chuyện đó, ảnh hưởng tốt ngay đến công việc, cho nên tôi phát huy nó.
- Là một người rất hiện đại, biết nhiều ngoại ngữ nhưng ông lại ít đọc báo mạng?
Tôi thích đọc báo “cổ điển” – một lối mòn tư duy chăng (cười). Thích giấy hơn. Báo mạng hay cũng in ra đọc.
- Nhưng ông có thấy báo in bây giờ “chán” không ạ?
Đúng là có chùng xuống. Không có nhiều chính kiến sâu sắc như trước. Nay chỉ đưa sự kiện thì báo nào cũng giống nhau. Buồn nhất báo chí là có khi chỉ đọc một tờ là đủ. Có lẽ tôi hơi cực đoan trong chuyện này. Lúc làm quan chức tôi cảm thấy rất là khổ sở, phải lệ thuộc một cái gì đó, không thể tự do sáng tạo. Một tờ báo không có “diện mạo” riêng là chết. Chết cái tự do, đột phá.
- Ông trả lời báo chí là: “Năm ngoái chúng ta mất ông Sáu Dân (cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt)”... Ông được gắn bó nhiều với chú Sáu?
|
Nhiều loại hình kinh doanh mới nhưng chính quyền không chuẩn bị cho nó, một thời gian dài buông lỏng quản lý |
Tôi không biết ông nhiều. Chỉ đôi lần đi dịch cho ông tiếp khách lúc ông còn làm Thủ tướng. Vậy thôi. Những năm gần đây có lúc ông định thành lập nhóm nghiên cứu, tôi có tham gia một số cuộc họp. Nhưng tôi trả lời câu hỏi báo chí “năm qua cá nhân ông có niềm vui nỗi buồn nào lớn nhất”, thì nỗi buồn nhất là mất ông. Tôi kính trọng và tiếc một con người nhiệt huyết hăng say việc chung đất nước, lúc nào cũng nói chuyện làm gì cho người nghèo. Từ chuyện lớn đến chuyện nhỏ, ông đều thẳng thắn bày tỏ chính kiến. Từ ông, tôi nghiệm ra những tâm hồn lớn hay quan tâm đến người khác thật lòng, không “diễn”.
- Ông cũng thường mỉm cười khi ai đó lên án gay gắt các “thói tật” của giới doanh nhân mới giàu lên có người ăn chơi xa hoa. Sao vậy?
Là vì đa số không phải như vậy. Họ làm ăn vất vả. Đổ mồ hôi sôi nước mắt lắm. Làm doanh nghiệp trong điều kiện Việt Nam khó khăn hơn các nước nhiều. Nếu có biểu hiện gì thì cũng chỉ là thiểu số, không đáng trách mà buồn cười thôi. Thí dụ thói hay khoe mẽ. Một bà vừa tan buổi xem văn nghệ ra bốc điện thoại bảo người giúp việc: nhớ bật điều hòa lên cho mát các phòng vì cô sắp về rồi đấy. Hoặc một ông đi dự tiệc ra, hơi quá đáng, đi 2 cái xe đẹp. Một xe Roll Royce ông tự lái chở một người đẹp. Một cái Cadillac chở theo tài xế đi hỗ trợ. Nhưng suy cho cùng cảnh ấy đã từng có từ thời Vũ Trọng Phụng rồi mà!
- Xin cảm ơn ông đã trò chuyện cởi mở!
Nguyễn Thị Ngọc Hải (thực hiện)