Thứ Ba, 06/10/2009 - 17:16

Việt Nam – Xu Đăng: Nhiều cơ hội hợp tác

Sáng nay (06/10/2009), tại Hà Nội, VCCI kết hợp với Đại sứ quán Xu đăng tại Việt Nam tổ chức hội thảo: Cơ hội hợp tác thương mại và đầu tư Việt Nam-Xu đăng”. Đây là bước khởi đầu quan trọng cho việc phát triển quan hệ hợp tác thương mại và đầu tư mà Chính phủ 2 nước đang rất quan tâm.

Phát biểu khai mạc, TS Vũ Tiến Lộc – Chủ tịch VCCI tin tưởng: Hội thảo gặp gỡ doanh nghiệp Việt Nam-Xu đăng sẽ là một đóng góp tích cực cho việc góp phần thúc đẩy quan hệ thương mại, xuất nhập khẩu, đầu tư mà Chính phủ hai nước đang rất quan tâm, đặc biệt là lĩnh vực dầu khí và nông nghiệp - hai lĩnh vực có thế mạnh của hai nước. Chủ tịch VCCI cũng khẳng định sẽ luôn luôn là cầu nối hỗ trợ đắc lực cho các doanh nghiệp hai nước hợp tác làm ăn với nhau.

Kim ngạch hai nước tăng đáng kể

Việt Nam và Xu Đăng thiết lập và duy trì được mối quan hệ hữu nghị hết sức tốt đẹp từ năm 1969. Kim ngạch trao đổi thương mại giữa hai nước tuy còn khiêm tốn nhưng đã có sự tăng trưởng đáng khích lệ trong những năm gần đây. Nếu như năm 2002, kim ngạch thương mại hai chiều mới chỉ đạt 0,96 triệu USD thì tới năm 2008 kim ngạch đã tăng lên 63,4 triệu USD. Năm 2008, Việt Nam đã xuất khẩu sang Xu-Đăng 23,9 triệu USD với các mặt hàng chính như máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện (11,9 triệu USD), hạt tiêu (2 triệu USD), sản phẩm dệt may (2 triệu USD), nguyên phụ liệu thuốc lá (1,3 triệu USD) gạo, cà phê, cơm dừa, túi xách, ví da .... Năm 2008 cũng là năm đầu tiên, cán cân thương mại hai nước đã nghiêng về phía Xu-Đăng với kim ngạch nhập khẩu đạt 39,5 triệu USD, trong đó mặt hàng mà Việt Nam nhập khẩu chủ yếu là thép phế liệu (14 triệu USD), xăng (11,7 triệu USD), máy móc, thiết bị dụng cụ (4,6 triệu USD). Năm 2009, do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới, kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang Xu-Đăng trong 6 tháng đầu năm đạt 14,75 triệu USD và nhập khẩu từ Xu-Đăng chỉ đạt 0,75 triệu USD.

Tuy nhiên, những con số nêu trên chưa tương xứng với mối quan hệ hữu nghị và tiềm năng hợp tác của hai nước. Hiện, còn có rất nhiều tiềm năng cho việc mở rộng hợp tác giữa hai nước trong các lĩnh vực nông nghiệp, dầu khí, công nghiệp nhẹ, công nghiệp chế biến, vật liệu xây dựng, dược phẩm…..Bên cạnh đó, để quan hệ thương mại song phương phát triển hơn nữa cần có sự hỗ trợ, hợp tác trong các lĩnh vực như đầu tư, ngân hàng, bảo hiểm, vận tải.     
TS Vũ Tiến Lộc - Chủ tịch VCCI phát biểu khai mạc hội thảo      

Việt Nam đã và đang sẵn sàng đón DN Xu Đăng

Ông Trần Quang Huy – Phó Vụ trưởng Vụ Thị trường Châu Phi, Tây Á, Nam Á (Bộ Công thương) cho biết, từ trước đến nay vẫn chưa có một dự án nào của Việt Nam đầu tư vào Xu-Đăng và ngược lại. Ông hy vọng rằng, sau hội thảo này, các doanh nghiệp hai nước sẽ quan tâm tìm hiểu thị trường của nhau nhiều hơn, tìm kiếm được các cơ hội hợp tác kinh doanh và đầu tư. Việt Nam đã và đang chuẩn bị sẵn sàng những điều kiện tốt nhất trong khả năng của mình để chào đón các bạn đến với Việt Nam.

Hiện nay, Việt Nam đã có nhiều hành động tích cực nhằm thúc đẩy mối quan hệ giữa hai nước: “Hiện Việt Nam đang tích cực triển khai “Chương trình hành động quốc gia thúc đẩy quan hệ Việt Nam - Châu Phi giai đoạn 2004-2010”, coi trọng quan hệ với các nước bạn bè truyền thống ở Châu Phi, trong đó có Xu - Đăng. VCCI cũng đã thành lập Diễn đàn Doanh nghiệp Việt Nam-Châu Phi nhằm góp phần thúc đẩy quan hệ thương mại, đầu tư giữa cộng đồng doanh nghiệp.” – Chủ tịch VCCI cho biết.

Nhằm tạo lập một môi trường kinh doanh hấp dẫn cho các nhà đầu tư nước ngoài, Chính phủ Việt Nam đã tiến hành một số bước đi quan trọng nhằm đơn giản hoá và tạo thuận lợi thủ tục cấp phép đầu tư, xoá bỏ cơ chế hai giá….. “Luật khuyến khích đầu tư nước ngoài, lần đầu tiên được ban hành năm 1996 và được thay thế bằng Luật Đầu tư năm 2005, được các nhà đầu tư nước ngoài coi là luật đầu tư thông thoáng nhất trong khu vực” - ông Phùng Quang Huy cho biết thêm.

Ngoài ra, với những thành tựu phát triển kinh tế xã hội quan trọng và tiềm năng thương mại, đầu tư cùng với những lợi thế so sánh của Việt Nam trên các mặt như có một thị trường nội địa rộng lớn với hơn 80 triệu dân, kết nối với thị trường Trung Quốc, thị trường ASEAN; vị trí địa lý chiến lược trong khu vực; tài nguyên thiên nhiên phong phú, lực lượng lao động có kỹ năng và chi phí nhân công thấp, thì theo ông Huy, Việt Nam là một nơi kinh doanh lý tưởng để kinh doanh và đầu tư.  

Triển vọng hợp tác và chính sách thu hút đầu tư tại Xu Đăng

Trong Hội thảo, đại diện đoàn Xu - Đăng cho biết, có vô vàn các cơ hội đầu tư vào nhiều lĩnh vực kinh tế khác nhau tại Xu - Đăng như nông nghiệp, công nghiệp, năng lượng, khai khoáng và dịch vụ. Ngoài ra, các cơ hội đầu tư vào lĩnh vực hàng không, vận tải đường bộ, cơ sở hạ tầng, kho bãi cũng rất đáng quan tâm. Đối với các khu vực này, Cục Đầu tư sẽ làm các công việc liên quan đến thủ tục trong nước và sẽ hoàn tất các bước cần thiết thay mặt cho nhà đầu tư. Đại diện Xu - Đăng cũng khuyên các doanh nghiệp Việt Nam nên đầu tư vào 4 ngành công nghiệp, đó là: Nông lâm nghiệp và thủy sản, dầu khí, công nghiệp thực phẩm và chế tạo máy (trong công nghiệp nhẹ). Đây là những ngành mà Xu - Đăng có triển vọng phát triển mạnh mẽ, và những ngành cũng là thế mạnh của Việt Nam với kinh nghiệm lâu đời.

Đại diện đoàn Xu - Đăng cũng cho biết thêm, nền kinh tế Xu - Đăng là nền kinh tế thị trường và đang có sự chuyển hướng nhanh chóng sang tư nhân hoá ở mọi lĩnh vực. Xu - Đăng còn là một nước lớn nhất Châu Phi và Trung Đông và lớn thứ 10 thế giới về quy mô lãnh thổ. Với vị trí chiến lược, Xu Đăng là cửa ngõ vào các thị trường Châu Phi và Trung Đông và các nước lân cận, một trung tâm marketing lí tưởng và là điểm trung chuyển để cung ứng hàng hóa và dịch vụ cho các nước láng giềng.

Hơn thế nữa, Xu - Đăng còn là thành viên lớn nhất và chủ chốt của Thị trường chung khu vực Tây và Nam Phi (COMESA). Ngoài ra Xu - Đăng còn là thành viên của các tổ chức kinh tế tài chính vùng, tiểu vùng và quốc tế. Xu - Đăng cũng tham gia hệ thống bảo vệ đầu tư vùng và quốc tế.

Không những đất nước Xu - Đăng có nhiều tiềm năng và thế mạnh để thu hút sự đầu tư của nước ngoài mà các chính sách đầu tư cũng rất thông thoáng. Một pháp lệnh khuyến khích đầu tư chưa từng có trong tiền lệ đã được ban hành với nhiều điểm khuyến khích và những quyền lợi đặc biệt dành cho doanh nghiệp. Các chương trình, kế hoạch đầu tư trong lĩnh vực kinh tế xã hội đều được xác định rất rõ ràng, nhất là ở Chiến lược quốc gia toàn diện vì đất nước Xu - Đăng.

Bên cạnh đó, những bước cải tổ gần đây do nhà nước tiến hành đã giải phóng hoạt động đầu tư vào Xu -Đăng khỏi các đạo luật khắt khe. Các chính sách, thủ tục liên quan đến đầu tư tại Xu - Đăng ổn định, nhanh gọn và đơn giản.... 

Trong nhiều năm liên tiếp, nền kinh tế Việt Nam đã đạt được tốc độ tăng trưởng cao, liên tục với GDP bình quân mỗi năm đạt 7,5%. Năm 2008, mặc dù chịu nhiều tác động của cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới nhưng tăng trưởng kinh tế của Việt Nam vẫn đạt mức 6,18%. Cơ cấu kinh tế chuyển biến theo hướng tích cực theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Trong cơ cấu GDP năm 2008, tỷ trọng nông nghiệp chiếm 23.8%, công nghiệp và xây dựng 38,1%, dịch vụ 38,1% so với tỷ trọng cơ cấu trong GDP tương ứng của năm 1998 là 46,3%, 21,6% và 32,1%.

Về ngoại thương, kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam không ngừng tăng cao trong những năm qua, thị trường xuất nhập khẩu của Việt Nam được mở rộng cả về qui mô, đối tác, hàng hoá và dịch vụ. Năm 2008, kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam đạt mức 62,7 tỉ USD với các mặt hàng xuất khẩu có kim ngạch lớn là: Dầu thô, dệt may, thuỷ sản, giày dép, hàng điện tử, dây và cáp điện, máy tính và linh kiện máy tính, sản phẩm gỗ, sản phẩm nhựa, hàng tiêu dùng, cao sự tự nhiên, gạo, cà phê, chè, hạt tiêu, rau quả, hạt điều, lạc, quế, thủ công mỹ nghệ, đồ chơi trẻ em, vật liệu xây dựng, than đá, thiếc và một số khoáng sản khác….. Việt Nam đã trở thành một trong những nước đứng đầu thế giới về xuất khẩu gạo, cà phê, hạt tiêu. Kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam năm 2008 đạt 80,7 tỉ USD trong đó chủ yếu là các mặt hàng nhập khẩu thiết yếu như xăng dầu, máy móc, thiết bị, sắt thép, phân bón….. để phục vụ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.

Về đầu tư nước ngoài, tính đến tháng 9/2009, Số dự án FDI còn hiệu lực tại Việt Nam là 10.747 dự án với tổng số vốn đăng ký 168,39 tỷ USD. Hiện đang có 88 nước và vùng lãnh thổ đầu tư vào Việt Nam. Bên cạnh đó, Việt Nam cũng hiện đang có 440 dự án đầu tư tại tại 49 quốc gia và vùng lãnh thổ trên khắp thế giới, với tổng vốn đầu tư đăng ký đạt trên 6,8 tỷ USD. Riêng 8 tháng của năm 2009, tổng vốn đăng ký đầu tư của các doanh nghiệp Việt Nam ra nước ngoài đạt trên 2,1 tỷ USD, chiếm 20,8% tổng vốn đầu tư ra nước ngoài từ trước đến nay.
 
(Trần Quang Huy – Phó Vụ trưởng Vụ Thị trường Châu Phi, Tây Á, Nam Á, Bộ Công thương)
   
Hồ Hường
search