Thị trường đang có dấu hiệu của sự chờ đợi, đồng thời đoán nhận mức độ của những khó khăn tiếp theo sẽ xảy ra với nền kinh tế. Vấn đề tiếp tục nới lỏng hay bắt đầu thắt chặt trong chính sách của Chính phủ để thực sự thoát khỏi khó khăn hiện nay cũng là những điều khiến thị trường còn phải do dự.
Thanh khoản suy giảm
Phiên giao dịch cuối tuần, VN-Index đã kết thúc với mức giá đóng cửa gần bằng với mức giá mở cửa, xấp xỉ 495 điểm. Khối lượng giao dịch đã sụt giảm rõ rệt, thể hiện sự suy kiệt của dòng tiền trong thị trường chứng khoán hiện tại. Đây cũng là nét đặc trưng nhất của tuần qua.
Nhìn trên biểu đồ tuần, chúng ta cũng thấy điều tương tự. 495 cũng là mức mở cửa của phiên đầu tuần và đến cuối tuần, sự thay đổi gần như không xảy ra. Đây cũng là tuần có tổng khối lượng giao dịch thấp nhất trong vòng 16 tuần qua. Sự điều chỉnh giảm trung hạn sau khi phản ánh bằng điểm số nay bắt đầu thể hiện vào khối lượng giao dịch.
Vừa qua, chúng ta đã nhận thấy 2 giải pháp của Chính phủ là tăng lãi suất cơ bản và nâng trần tỷ giá đối với đồng USD. Tác động làm ổn định nền kinh tế của những động thái này đã rõ, nhưng ảnh hưởng tiêu cực của chúng cũng không nhỏ bởi gánh nặng vĩ mô đang được chuyển dần từ nhà nước, hệ thống ngân hàng sang doanh nghiệp, người tiêu dùng.
Rõ ràng, việc tăng lãi suất cơ bản gây ra mâu thuẫn với chính sách hỗ trợ lãi suất đang có và doanh nghiệp cũng sẽ phải chịu nhiều chi phí tài chính hơn. Nâng tỷ giá cũng đồng nghĩa với việc đẩy mặt bằng giá cả trong nước lên một mức cao hơn. Cả hai yếu tố này đều ảnh hưởng tiêu cực đến hoạt động của các doanh nghiệp nói chung và các doanh nghiệp niêm yết nói riêng. Vì vậy, lợi nhuận trong quý 4 này và quý 1 năm sau có khả năng giảm nhiều so với giai đoạn trước. Ngoài ra, khi không còn sự hỗ trợ từ kích cầu, doanh nghiệp phải đi trên đôi chân của chính mình và đây là điều mà thị trường đang nhận thấy rõ nhất.
Hiện tại, VN-Index đang dao động nhẹ quanh mốc 500 điểm với khối lượng giao dịch thấp. Tuy vậy, sự điều chỉnh trung hạn vẫn chưa có dấu hiệu kết thúc bởi những động thái vừa qua của Chính phủ chắc chắn không đủ tác dụng để giải quyết một tình huống khó mà nguồn gốc đã tích tụ từ lâu. Hơn nữa, độ trễ trong tác động của chính sách cũng là yếu tố cần tính đến.
Tháng 12 và đồng USD
Mâu thuẫn trong nhận thức là tình trạng thường xảy ra lúc con người có những kỳ vọng trái chiều ở cùng một thời điểm. Đây là vấn đề mà các NĐT mắc phải khi vừa tin tưởng vào một vài dạng thị trường hiệu quả, vừa ứng dụng những quy luật đầu tư không có cơ sở trên thị trường. Thị trường ngoại hối là một thị trường rộng lớn và tiềm ẩn nhiều rủi ro.
Theo công bố gần đây nhất của Bank for International Settlement, doanh thu trung bình trên thị trường này ước tính đạt khoảng 3.2 tỷ USD/ ngày. Rất nhiều NĐT và cả các chuyên gia phân tích đều coi đây là thị trường hiệu quả nhất trên thế giới. Song, khi thời điểm cuối năm đang đến gần, họ cũng đặt kỳ vọng vào một số quy luật đầu tư riêng nhằm sinh lời từ việc bán USD trong tháng 12.
Trước hết là quan điểm tính chu kỳ của đồng USD. Theo giải thích của nhiều cá nhân thì ngay cả trong những nền kinh tế hiện đại, tính chu kỳ vẫn đóng một vai trò quan trọng vào hoạt động và hành vi kinh tế. Tính chu kỳ cũng xuất hiện nhiều trên thị trường vốn. Các NĐT thường quen với hiệu ứng tháng Một của TTCK. Vào thời điểm đó, thị trường hoạt động tốt hơn thường lệ trong tuần đầu tiên hoặc trong cả tháng. Nếu không, biến động tháng Một của thị trường sẽ là dấu hiệu định hướng chung trong suốt 11 tháng sau đó.
Dưới đây sẽ là một số thống kê đơn giản từ các số liệu của Bloomberg về diễn biến đồng USD trong tháng 12 giai đoạn 1990-2008. Trước tiên, xét tỷ giá Euro/USD. Vào khoảng thời gian này, USD đã giảm so với Euro trong 11/19 tháng 12. Con số này chưa thể khẳng định cho một kết luận chắc chắn, bởi xác suất 11/19 và kích thước mẫu còn khá nhỏ. Đó giảm giá trong 8/12 tháng 12. Điều này càng khẳng định tính ngẫu nhiên của quy luật nêu trên. Thống kê về chỉ số giá đồng USD qua thương mại hàng hóa với nước ngoài của FED cũng chỉ ra rằng, trong vòng 19 năm, USD đã tăng giá 10/19 ở tháng 12.
Nếu đặt diễn biến giá đồng USD tháng 12 vào thời điểm cuối năm, NĐT sẽ thấy một nguyên tắc đầu tư khác thuyết phục hơn tính chu kỳ nêu trên. Đó là xu thế tăng nhẹ của giá USD tháng 12 theo chiều hướng đã diễn ra trong cả năm.
Dựa trên thống kê, có đến 13/19 năm, tỷ giá USD/Euro trong tháng 12 đi cùng chiều với xu hướng của cả năm. So với đồng Yen, giá USD tháng 12 cũng thường biến động theo cùng xu hướng cả năm. Tương tư, con số này của chỉ số giá USD qua thương mại hàng hóa với nước ngoài do FED công bố đạt 13/19 tháng 12.
Thống kê trên cho thấy, lý thuyết đồng USD tháng 12 có cùng xu thế với cả năm phù hợp hơn nguyên tắc USD sẽ giảm giá trước đó. Tuy nhiên, NĐT nên cân nhắc lý thuyết này, bởi giai đoạn 2005-2008, tháng 12 không hoàn toàn là “tháng xu hướng” của tỷ giá Euro/USD.
Vậy, điều này có nghĩa tháng 12 là tháng đảo chiều? Việc tung đồng xu và đạt mặt ngửa 4 lần liên tiếp liệu có là đáp án cho bài toán may rủi? Rõ ràng, kích thước mẫu nhỏ có thể dẫn đến kết quả sai lệch. Trong giai đoạn 2001-2004, tháng 12 đã là “tháng định hướng” của USD. Điều này cũng đúng với khoảng thời gian từ 1992-1999.
Tuy nhiên, theo Bloomberg, đồng Euro đã kết thúc tháng 11 ở mức $1.5005, tăng 7% trong cả năm nay. Nếu theo lý thuyết xu hướng, đồng Euro sẽ cần đạt dưới mức đó hoặc giảm giá hơn 7% vào 3 tuần cuối năm để dừng lại ở khoảng $1.3971.
Bên cạnh đó, so với Yen, USD hiện đang đi ngược xu hướng của 2 năm 2005 và 2006 (USD đã mạnh lên trong tháng 12 cũng như trong tổng thể 2 năm này). Tính đến hết tháng 11, giá USD là JPY86.41. Từ đó đến nay, giá USD giảm khoảng 2,7% so với JPY. Nếu theo lý thuyết xu hướng đề ra thì USD phải kết thúc năm ở dưới mức JPY 86.41 hoặc tăng thêm 2.7% để đạt JPY 90.64.
Phân tích nêu trên được đưa ra với mẫu phân tích rất nhỏ. 19 số liệu thống kê có lẽ là không đầy đủ để đưa ra một kết luận chính xác. Bên cạnh đó, số liệu sử dụng được biểu diễn bằng giá, không hẳn đã là giá trị giao dịch thực tế. NĐT nên tham khảo thêm một số mô hình và tương quan khác nghiên cứu ở mức sâu hơn. Tuy nhiên, chắc hẳn việc bán USD chỉ vì đây là tháng 12 dường như không phải là một chiến lược đặc biệt hấp dẫn. Những NĐT khôn ngoan sẽ không coi trọng thái quá biến động trung bình của giá USD trong tháng 12 bởi phương sai thu được có thể rất lớn. Điều này chẳng khác gì trạng thái trung bình của kẻ đầu đang nóng như lửa đốt mà chân cóng như đóng băng.
Tác động từ điều chỉnh lãi suất và tỷ giá đối với doanh nghiệp
Sau 10 tháng duy trì ổn định, từ ngày 1/12, lãi suất cơ bản tăng từ 7%/năm lên 8%/năm, lãi suất tái cấp vốn tăng từ 7%/năm lên 8%/năm, lãi suất chiết khấu tăng từ 5%/năm lên 6%/năm. Ngày 26/11, Ngân hàng Nhà nước trực tiếp tăng thêm 5% tỷ giá bình quân liên ngân hàng, thu hẹp biên độ từ +/-5% về +/-3%.Quyết định này ảnh hưởng tới các nhóm ngành, doanh nghiệp với mức độ khác nhau. Nhiều DN mừng vì có thể hạch toán chi phí thực trong việc mua USD để NK hàng hoá nhờ điều chỉnh tỷ giá nhưng cũng không ít DN lo vì sẽ lại gia tăng chi phí từ tỷ giá và việc điều chỉnh lãi suất cơ bản. Về phía ngân hàng thì “nút thắt” thanh khoản được nới lỏng hơn.
Nhóm ngân hàng: Tăng lãi suất cơ bản giúp các NHTM có thể tăng lãi suất đầu vào, góp phần ổn định thanh khoản cho hệ thống ngân hàng khi tín dụng 11 tháng tăng 34,5%, trong khi huy động vốn chỉ tăng hơn 26%. Với mức điều chỉnh này, trần lãi suất huy động sẽ lên tới 12% và các ngân hàng hoàn toàn có thể chấp nhận mức huy động 11% để thu hút vốn, đảm bảo khả năng cho vay và tính thanh khoản của ngân hàng. Tuy nhiên, lãi suất cơ bản tăng, dòng tiền mới đổ vào NH chưa đáng kể.
Việc điều chỉnh tỷ giá tác động hỗ trợ giảm chênh lệch giữa tỷ giá chính thức và tỷ giá trên thị trường tự do, có thời điểm lên tới hơn 20.000 đồng/USD. Cung cầu ngoại tệ với các NH có cải thiện hơn. Lợi nhuận ngân hàng kỳ vọng khả quan trong thời gian tới.
Nhóm DN vay vốn: Hiện bình quân lãi suất vay ngoại tệ khoảng 5%/năm, sau mức điều chỉnh lần này, lãi suất cả năm là 5,7%. Với các doanh nghiệp đang vay ngoại tệ, chi phí vay vốn sẽ gia tăng. Đồng thời, sẽ phải tăng trích lập rủi ro, hậu quả là lợi nhuận giảm.
Đối với DN vay vốn bằng VND. Thực trạng thời gian vừa qua, khi lãi suất cơ bản ở mức 7% thì các DN cũng khó có thể huy động được vốn ở mức lãi suất trần là 10.5%. Chi phí vốn vay thực tế của nhiều DN cao hơn, xấp xỉ 12%, tương đương với lãi suất trần hiện nay. Do đó, đối với nhiều DN chi phí gần như không tăng khi lãi suất cơ bản tăng 1%. Tuy nhiên nếu thời gian tới lãi suất cơ bản tiếp tục tăng thì chi phí vốn tăng mạnh sẽ ảnh hưởng nhiều tới hiệu quả hoạt động doanh nghiệp.
Nhóm DN nhập — xuất nguyên liệu, hàng hóa: Việc tăng tỷ giá bình quân liên ngân hàng, đồng thời giảm biên độ dao động giúp các DN xuất khẩu được lợi nhờ đánh giá lại thu nhập bằng ngoại tệ, hàng hóa xuất khẩu cạnh tranh hơn. Đồng thời, khiến giá USD theo quy định của NHNN và giá chi phí thực tế của DN để có USD đến gần nhau hơn. Thực tế một số DN thường xuyên phải chi phí cao hơn khá nhiều so với tỷ giá USD/VND theo quy định của NHNN mới có được đủ USD để nhập khẩu nguyên liệu. Cách thức là NHTM mua USD với giá thị trường, bán lại cho DN với giá cao hơn tỷ giá quy định nhiều và chỉ hạch toán theo tỷ giá quy định. Tuy nhiên, khi hạch toán vào chi phí, DN chỉ được hạch toán theo tỷ giá quy định. Toàn bộ chi phí vượt hơn DN không được đưa vào chi phí dù đó là chi phí thực. Như vậy thực tế DN không bị tăng chi phí mà còn có lợi vì được hạch toán phần chi phí mà trước đây không được hạch toán. Như vậy, sẽ giảm lợi nhuận trên sổ sách và giảm được phần thuế thu nhập DN.
Mặt khác, tỷ giá USD/VND tăng nên các mặt hàng nhập khẩu hoặc có nguyên liệu đầu vào là nhập khẩu đều được điều chỉnh giá. Tạo cơ hội cho các doanh nghiệp kinh doanh hàng Việt.
Công ty chứng khoán Artex