Thứ Năm, 17/12/2009 - 10:15

Chinh phục người tiêu dùng Việt

Từ kinh nghiệm của một người gắn bố lâu năm với ngành may mặc Việt Nam, chị Nguyễn Thị Thanh Huyền – Tổng Giám đốc Công ty cổ phần May 10, khẳng định: làm hàng cho người Việt Nam không dễ. Thế nhưng, chính sự khó tính của khách hàng lại giúp nâng cao khả năng thích ứng của doanh nghiệp.

Người tiêu dùng Việt Nam khó tính

Với thu nhập bình quân đầu người thấp, hơn 70% dân số sống ở khu vực nông thôn, những tưởng Việt Nam là một thị trường dễ tính trong con mắt của các nhà sản xuất hàng may mặc. Thực tế thì...

- Trong lĩnh vực may mặc, thời trang, chị đánh giá thế nào về người tiêu dùng Việt Nam?

Tâm lý chung ai cũng muốn mặc đồ tốt và rẻ. Hiện tại Việt Nam có 3 xu thế chính. Xu thế phổ biến nhất ở các vùng nông thôn, xa các trung tâm đô thị, là mặc đồ rẻ, không quan tâm tới thương hiệu cũng như các vấn đề khác. Xu thế thứ 2 thì chỉ thích hàng có thương hiệu, mà phải là thương hiệu ngoại, và đắt mấy cũng mua. Còn xu thế thứ 3 là tìm đến các thương hiệu trong nước có tên tuổi, có uy tín và có trách nhiệm với người tiêu dùng. Từ năm 1996, May 10 đã làm hàng sơ mi cho Pierre Cardin. Thế nhưng phải nhiều năm sau người tiêu dùng trong nước mới biết tới và thích dùng hàng Pierre Cardin.

Từ thực tế, tôi nhận thấy rằng người tiêu dùng Việt Nam là những người tiêu dùng rất khó tính. Họ đòi hỏi giá sản phẩm không được cao mà chất lượng thì phải tốt nhất. Nếu họ có bất cứ một điều gì không hài lòng về sản phẩm và dịch vụ là đều có thể phản hồi ngay lập tức, có khi họ điện thoại trực tiếp cho tôi chứ không qua các bộ phận phòng ban chức năng. Nhưng tôi lại thích vì phục vụ đối tượng càng khó tính thì khả năng thích ứng của mình càng được nâng cao, cả về dịch vụ và giá trị.

Chị Nguyễn Thị Thanh Huyền: “Các doanh nghiệp trong nước đã làm được hàng cho các nhãn hiệu nổi tiếng của châu Âu thì có đủ khả năng làm ra những sản phẩm chất lượng cao phục vụ người tiêu dùng trong nước”
- Không ít người khi ra nước ngoài đã chi rất nhiều tiền để mua những sản phẩm may mặc của các hãng nổi tiếng mà không biết rằng hàng ngoại đấy chính là “made in Vietnam”. Điều đó phải chăng vì họ tin tưởng hàng ngoại hơn, thưa chị?

Ai cũng thấy, khi nói tới Nhật Bản là nói tới chất lượng tốt và độ tin cậy cao. Còn nói tới Hàn Quốc là nói tới tính dân tộc, lòng yêu nước. Ở đây tôi muốn nói tới một tư duy mà cả doanh nghiệp lẫn người tiêu dùng Việt Nam cần nhìn nhận, đó là các sản phẩm phục vụ thị trường nội địa cần phải có chất lượng cao nhất, như Nhật Bản và Hàn Quốc đang làm. Nhưng khi doanh nghiệp có tâm với thị trường thì người tiêu dùng cũng cần đánh giá đúng những nỗ lực của doanh nghiệp và thay đổi nhận thức về hàng trong nước.

Thực tế cuộc sống cho thấy, tâm lý thích hàng ngoại ở người tiêu dùng Việt Nam vẫn còn lớn. Các doanh nghiệp Việt Nam cũng có rất nhiều thương hiệu tốt nhưng nếu so với các thương hiệu có lịch sử cả trăm năm ở nước ngoài thì các thương hiệu trong nước chưa thể cạnh tranh được, dù giá trị sử dụng của sản phẩm có khi không khác nhau. Thậm chí, người tiêu dùng mua hàng ngoại không phải lúc nào cũng được phục vụ tốt như khi mua hàng nội.

Không có lý nào các doanh nghiệp trong nước làm được hàng cho các nhãn hiệu nổi tiếng của châu Âu và Mỹ mà lại không phục vụ được người tiêu dùng trong nước những sản phẩm như vậy, vì nguyên liệu và chất lượng may là như nhau. Với riêng May 10, chúng tôi cam kết cung cấp cho người tiêu dùng trong nước những sản phẩm có chất lượng bằng hoặc cao hơn so với những thị trường xuất khẩu mà chúng tôi đang phục vụ. Sự khích lệ và ủng hộ của người tiêu dùng thông qua việc sử dụng những hàng hóa có chất lượng được sản xuất trong nước là những động viên cho doanh nghiệp trong quá trình tìm tòi, nghiên cứu và sản xuất, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu của khách hàng.

- Các doanh nghiệp dệt may trong nước vẫn bị xem là đang bỏ trống sân nhà. Theo chị vì sao lại vậy?

Thực hiện một đơn hàng xuất khẩu theo hình thức gia công hay FOB thì cứ giao hàng xong là xong, nếu khẳng định được công tác quản lý của mình tốt, vì người gia công không phải lo về mẫu mã và thị trường. Nhưng khi làm hàng phục vụ cho người tiêu dùng trong nước chúng tôi lại rất trăn trở, không bằng lòng với những gì mình đã làm được mà muốn phải đẹp hơn, chất lượng tốt hơn. Đây là sức ép rất lớn.

Nhà nước “bà đỡ” doanh nghiệp

Dẫu rằng Việt Nam đã hội nhập kinh tế quốc tế và chúng ta phải tuân thủ các cam kết quốc tế mà mình đã đưa ra, nhưng để doanh nghiệp dệt may của Việt Nam lớn mạnh vẫn cần bàn tay hỗ trợ của Nhà nước.

- Để giúp doanh nghiệp dệt may trong nước lớn mạnh, theo chị Nhà nước nên hỗ trợ thế nào?

Trong kinh doanh, doanh nghiệp không thể ngồi chờ được Nhà nước hỗ trợ. Tuy nhiên, Nhà nước có thể hỗ trợ cho doanh nghiệp trong nước rất hiệu qủa trong việc xây dựng thương hiệu thông qua hệ thống các cơ chế, chính sách đồng bộ.

Các sản phẩm trong nước phục vụ thị trường nội địa cần phải có chất lượng cao nhất như Nhật Bản, Hàn Quốc, đang làm

Hàn Quốc và Nhật Bản đều có cơ chế rất rõ ràng để phát triển các thương hiệu của họ ở cả trong và ngoài nước. Với Việt Nam, Chính phủ nên xác định rõ mối quan tâm trên thị trường nội địa và cơ chế chính sách phải thể hiện được điều đó. Ví dụ, doanh nghiệp “đứng” được trên thị trường nội địa bằng chính tên tuổi của mình, chứ không phải là đi mượn tên nước ngoài, thì có ưu đãi gì hơn để khuyến khích không? Các thương hiệu nổi tiếng nước ngoài khi vào Việt Nam đều quan tâm tới việc có được bảo vệ sở hữu trí tuệ, có bị làm giả, làm nhái không? Chỉ khi quyền sở hữu trí tuệ của họ được bảo vệ thì họ mới vào. Doanh nghiệp trong nước cũng vậy, nếu bỏ tiền ra đầu tư, xây dựng thương hiệu mà được bảo vệ thì họ mới dám làm. Thực tế, đối với doanh nghiệp Việt Nam, số tiền bỏ ra để xây dựng thương hiệu không phải là nhỏ bởi đó không phải chỉ là quảng bá, quảng cáo mà còn là đầu tư cho công nghệ, quản lý, đào tạo nguồn nhân lực để có được sản phẩm chất lượng cao cho người tiêu dùng.

- Thế còn việc dựng các hàng rào kỹ thuật để bảo hộ cho các sản phẩm may mặc trong nước thì sao thưa chị?

Chúng ta còn phải học nước ngoài nhiều về mặt này. Khi chúng tôi xuất khẩu hàng vào thị trường Mỹ hay EU thì bị kiểm tra rất chặt, toàn bộ vải để may đều phải được kiểm định trước khi hàng được phép nhập vào thị trường. Hàng loạt yêu cầu khác phải được tuân thủ, không đơn giản là làm ra hàng là xuất đi được.

Xây dựng uy tín để mở rộng thị trường

Đã có thời chúng ta quá say sưa với việc gia công hàng xuất khẩu. Và vì thế các chính sách của Nhà nước cũng như những nguồn lực của doanh nghiệp đều tập trung cho hoạt động này. Trong khủng hoảng kinh tế, thị trường xuất khẩu gặp khó khăn, cả Nhà nước và doanh nghiệp mới nhận chân rằng, củng cố và phát triển thị trường trong nước, song song với việc duy trì và mở rộng thị trường xuất khẩu mới là hướng phát triển đúng đắn và bền vững nhất. 

- Doanh số từ thị trường trong nước chiếm tỷ trọng như thế nào trong cơ cấu doanh thu của May 10?

Khoảng 20%.

- Con số này trong 5 năm qua có gì thay đổi không thưa chị?

Thực sự, tăng trưởng của thị trường nội địa trong cơ cấu doanh thu của chúng tôi không thay đổi nhiều trong những năm qua vì chúng tôi cũng “chia trứng ra nhiều giỏ” chứ không quá tập trung vào bất cứ thị trường nào. Ngay cả đối với thị trường xuất khẩu, cơ cấu cũng là 40% thị trường Mỹ, 40% thị trường châu Âu, và 20% là thị trường Nhật và các nước khác. Chúng tôi cũng đã có chiến lược tăng thị phần trên thị trường nội địa. Thị trường miền Bắc hiện chiếm 60% thị phần nội địa của May 10, và chúng tôi đang có kế hoạch mở rộng hơn nữa, đặc biệt là khu vực miền Trung và miền Nam. Nhưng May 10 không làm một cách rầm rộ mà làm đâu chắc đó.

- Sản phẩm của May 10 vẫn được biết đến nhiều là sơ mi nam. Vậy việc sản xuất sản phẩm dành cho phái nữ thì sao?

Hiện nay người tiêu dùng mới biết đến May 10 chủ yếu qua hàng dành cho phái nam chứ chưa phải đồ dành cho phụ nữ. Nhưng trên thực tế, sơ mi, áo vest của May 10 dành cho phái nữ có bán tại thị trường nội địa là các mặt hàng chất lượng cao.

Cần phải nói thêm là hiện có nhiều nhà nhập khẩu đi tìm nhà sản xuất hàng nữ có chất lượng cao nhưng không nhiều doanh nghiệp làm được. Ngoài việc họ không muốn làm thì có cả lý do là khó, không làm được. Làm đồ thời trang cho nữ thực sự không dễ, nhưng đến giờ phút này chúng tôi thấy rằng mình phải quan tâm.

- Tại các cửa hàng May 10 có những sản phẩm sơ mi giá chỉ khoảng 150.000 đồng/chiếc, nhưng cũng có chiếc giá tới gần 1 triệu đồng. Vậy đâu là phân khúc khách hàng mà May 10 nhắm tới?

Hiện nay phân khúc khách hàng của May 10 là đối tượng có thu nhập trung bình khá, khoảng 3 - 3,5 triệu đồng/tháng. Chúng tôi cũng đặc biệt quan tâm tới các vùng nông thôn vì bây giờ thu nhập của họ có thể còn thấp nhưng trong tương lai sẽ được nâng lên. Tốt nhất là doanh nghiệp có thể phục vụ mọi đối tượng. Nhưng điều đó không đơn giản vì phải có nguồn lực. Mối quan tâm hiện nay của May 10 là cung cấp sản phẩm đến người tiêu dùng như thế nào và làm thế nào để phục vụ khách hàng được tốt nhất.

Hiện chúng tôi đã có mặt tại các tỉnh có đông dân cư và tránh cạnh tranh tại những chỗ quá “nóng” vì điều đó làm tăng chi phí một cách không cần thiết. Hiện số cửa hàng và đại lý trên toàn quốc chỉ bán đồ May 10 là 150.

- Với các đơn hàng xuất khẩu thì chỉ gia công nên không phải lo vấn đề nguyên phụ liệu. Nhưng với các sản phẩm phục vụ thị trường trong nước thì việc sử dụng vải và phụ kiện của May 10 như thế nào, thưa chị?

Khi doanh nghiệp có tâm với thị trường tiêu dùng cũng cần đánh giá đúng và thay đổi về nhận thức

Vải vẫn phải nhập là chính. Như nói ở trên, người tiêu dùng Việt Nam muốn trả tiền ít nhưng hàng phải xịn. Có những doanh nghiệp tìm mọi cách để bán được hàng, nhưng May 10 không có chủ trương đó. Thực sự xuất xứ, thành phần như thế nào thì làm đúng thế. Có thể bây giờ khách hàng chưa hiểu về chất lượng hàng May 10 thì ngày mai họ sẽ hiểu, và khi họ hiểu rằng cứ mua hàng của May 10 là yên tâm thì không lo người tiêu dùng quay lưng lại với mình. Đây là một quá trình dài nhưng May 10 xác định đó là đầu tư cho thương hiệu và cho tương lai.

- May 10 hiện có bao nhiêu nhãn hiệu dành cho thị trường nội địa?

Trước đây May 10 có rất nhiều nhãn nhưng mang tên nước ngoài. Hiện tại công ty xác định phải lấy thương hiệu May 10 để thể hiện xuất xứ của hàng hóa. Lấy tên nước ngoài cũng tốt, nhưng do không phải là tên Việt Nam nên khi đăng ký bảo hộ thì không dễ được chấp nhận. Công ty có dòng May 10 Series với logo thống nhất, nhưng có nhiều nhãn hiệu cụ thể có giá trị và giá bán khác nhau dành cho các đối tượng khách hàng khác nhau.

- Đối với May 10 thì bao lâu phải bổ sung một sản phẩm mới hoặc là có những thay đổi để làm mới sản phẩm?

Mặt hàng chính của May 10 là sơ mi và vest dành cho nam nên sự thay đổi về thời trang không quá lớn như hàng nữ, nhưng lại yêu cầu sự khác biệt về chất liệu, về thiết kế của vải và các tiểu tiết. Chúng tôi có bộ phận nghiên cứu thị trường và nhận thấy sản phẩm chỉ được ưa chuộng trong 6 tháng tới 1 năm từ khi xuất hiện, ít có sản phẩm nào kéo dài tới 2 năm.

- Vậy khi có những thay đổi về một sản phẩm thì việc cải tiến sẽ tập trung vào đâu, thưa chị?

Thay đổi ở đây không chỉ là về bản thân sản phẩm mà còn là chương trình, dịch vụ dành cho khách hàng. Người tiêu dùng rất tinh nên mọi cải tiến họ đều nhận ra và doanh nghiệp nếu không có thay đổi, sáng tạo để nâng giá trị của mình lên thì sẽ khó được người tiêu dùng đồng hành lâu dài. 

- Xin cảm ơn chị về cuộc trao đổi này!

Thanh Hương (thực hiện)
search