Nhà văn Y Ban có truyện ngắn “Chợ rằm dưới gốc dâu cổ thụ” viết về mối tình của một chàng trai, một cô gái nảy nở từ những phiên chợ đêm.
Sẽ chẳng có gì đặc biệt nếu như đấy không phải là những phiên chợ âm dương, chàng trai là người âm, còn cô gái là người dương. Mối tình ấy thật đẹp và xúc động... Có lẽ, chị đã lấy cảm hứng từ một phiên chợ không họp ban ngày, không có phiên chính và phiên xép; phiên chợ ấy chỉ họp mỗi năm một lần vào đêm mùng bốn tháng giêng vào lúc chạng vạng tối, thời điểm “dương sắp hết, âm dần lớn”, trời đất giao hòa cùng nhau - Đó chính là phiên chợ Âm Dương ở làng Ó có tên chữ là Xuân Ổ thuộc xã Võ Cường, Bắc Ninh.
“Mồng bốn là hội kéo co, Mồng năm hội Ó chẳng cho nhau về”. Câu hát âm vang như một lời mời gọi những người con xa quê, du khách về với một vùng đất Quan họ tưng bừng lễ hội, về với một ngôi làng có hơn ba ngàn năm tuổi. Nơi đây, quá khứ và hiện tại vẫn đan xen vào nhau, những ngôi nhà ngói cũ kỹ xen lẫn những ngôi nhà mái bằng lô nhô vẫn nép mình vào cây đa, giếng nước sân đình vào những truyền thuyết và huyền thoại để lớn mạnh và phát triển.
Bà cụ Chắt năm nay cũng đã 84 tuổi bồi hồi khi kể về làng quê bé nhỏ trù phú bên con sông Tiêu Tương êm đềm. Chợ có từ bao giờ không ai biết, từ lúc còn bé đã nghe các cụ kể về phiên chợ âm dương nơi gốc đa đầu làng. Người ta đi chợ, hát quan họ, khi tan chợ lại mời nhau về nhà chơi. Nhà nào đông khách là may mắn cả năm. Chủ và khách không câu nệ chuyện mâm cỗ đầy vơi bởi được gặp được trông nhau là quý lắm rồi.
Thư tịch cổ còn chép lại xưa kia làng Ó hoang sơ toàn rừng rậm và đầm lầy “dưới thì nước, trên thì mây mù, khí độc bốc lên ngùn ngụt…”. Còn truyền thuyết lại kể rằng: nơi đây xa xưa là chiến trường, ngập chìm trong máu lửa, có rất nhiều người hi sinh vì tổ quốc “Trống trường thành lung linh bóng nguyệt, Khói cam tuyền mờ mịt thức mây”, cũng có số phận rủi ro, bất hạnh “nào ai mạc mặt, nào ai gọi hồn”… đã hóa thành những vong hồn phiêu diêu, muôn đời muôn kiếp rủ nhau về phiên chợ âm dương sắm sửa cho mình, tìm gặp người thân, đổi buồn thành vui.
Phiên chợ âm dương không chỉ độc đáo cho những người đang sống và những người đã khuất, mà còn là sự thấu cảm, cầu mong cho các linh hồn được siêu thoát. “Mồng một thì ở nhà cha, mùng hai nhà mẹ, mùng ba nhà thầy”… mồng bốn rủ nhau đi chợ âm dương. Trong cái se lạnh của đầu xuân, khi sương khói xuống bồng bềnh, bành bạc khiến làng xóm mờ ảo như một bức tranh thủy mạc người ta tất bật sửa soạn đi chợ.
Trên khoảng đất rộng, bên cạnh miếu thiêng của làng, chợ họp không có đèn đuốc, không lều quán, những chú gà đen, những bó vàng mã, gạo muối... Bên cạnh mỗi người bán là một chậu nước. Người mua không mặc cả, người bán không đếm tiền, tiền cứ thả vào chậu nước là xong - tiền âm thì nổi, tiền dương thì chìm.
Phiên chợ tấp nập, nhưng không ồn ào, người mua, kẻ bán cứ lặng lẽ trao đổi, chẳng biết đâu là người, đâu là ma. Trong đêm, người dương đi chợ với người âm, người thì tất bật chuẩn bị cho một năm mới, người thì đi tìm một bóng hình quen thuộc…Không gian càng mờ ảo, tranh tối, tranh sáng bởi chỉ có ánh sao đêm, người ta không thắp đèn vì sợ những chú gà sẽ cất tiếng gáy làm người âm đi mất.
Và cứ như thế họ mua may, bán rủi. Có người còn khăng khăng khẳng định đêm qua rõ ràng là tiền thật mà giờ đã là vài mảnh hến với mẩu yếm sồi. Nhưng họ lại không lấy làm bực tức, mà còn sung sướng vì có được “vật quý”. Đó cũng là điềm báo một năm may mắn tốt lành đang chờ họ bởi đã làm phúc cho người đã khuất.
Bên chén nước chè xanh bốc khói một cụ già mơ màng kể: ngày xưa chợ to lắm, họp trên bãi đất ruộng rộng đế hai, ba sào đất. Chợ bán nhiều gà lắm, to bé đủ cả mà chỉ toàn là gà đen thôi vì thế mới có tên là chợ Gà Đen và cái tên làng Ó cũng bắt nguồn từ đó. Người bán không cứ là người làng, cứ bán gà mái đen là được. Người thì có lồng, người bế gà trên tay, người mua chỉ sờ xem béo hay gầy. Thậm chí người bán cũng chẳng nói giá, người mua trả bao nhiêu thì tùy. Người ta mua gà đen để đem vào hội làng dự “cỗ kén” giữa lục giáp(thi cỗ giữa các đơn vị dân cư trong làng). Để làm một mâm “cỗ kén” công phu lắm, nhưng nếu được giải thì năm ấy người dân ở giáp đó sẽ may mắn, làm ăn phát đạt.
Canh ba, chợ tan. Những câu quan họ ngân nga lưu luyến dùng dằng giữa kẻ ở người đi. Người ta hát cho người sống và cả những người đã chết, câu hát được dồn nén, thăng hoa da diết đến lạ kỳ: “Mặt trời đã tắt, Đêm hội đã tàn, Các phận hồng nhan, Người mang về cả, Cái giòn cái giã, ở cả nơi người, Nơi đứng nơi ngồi, Trong thì xe thắm, Ngoài thì xe thâm, Mong kết tri âm, Sao người chẳng biết…”
Theo ông Nguyễn Sơn, Trưởng ban Mặt trận Tổ quốc xã - ngày xưa, làng Ó nghèo lắm, con cháu phải kéo nhau đi làm ăn xa, nhưng cứ đến hội lại rủ nhau về. Bởi đây là dịp được gặp người thân, dịp để tưởng nhớ đến hương hồn ông cha, được nghe câu quan họ, hương lửa cay nồng.
Nơi bán gà đen xưa giờ đã là ruộng rau xanh tốt, nhưng mỗi độ xuân về người làng Xuân Ổ từ già trẻ gái trai lại xúng xính trong những bộ quần áo mới, lại náo nức rủ nhau đi hội. Chợ bây giờ cũng bán nhiều thứ hơn có cả vải vóc khăn quàng cổ, khăn tay bít tất, gương lược… Người đi chợ không cần mua bán gà mái đen, chỉ cần gái mái thường mà đẹp cũng may mắn cả năm…
Cái vẻ huyền bí, liêu trai của một phiên chợ vùng Kinh bắc theo chân những người con đi làm ăn xa lan rộng khắp trong Nam, ngoài Bắc. Và cứ thế, cứ thế du khách thập phương lại theo lời mời gọi da diết của câu quan họ mà tìm về để gột rửa lòng mình, thỏa một chút tâm linh, cầu mong điều may mắn. Chợ Âm Dương làng Ó là một nét đẹp văn hóa, một dấu vết hoài niệm, một hình thức lễ hội giao hòa giữa con người và vũ trụ… của văn hóa dân gian còn lưu giữ được.
Đi chợ, là cái cớ những chàng trai, cô gái tìm đến gian hàng của người mình thương mua hàng. Những tiếng thì thào trong đêm ấy, còn có cả những câu tỏ tình những lời ước nguyện mà họ trao gửi cho nhau. Có bao mối tình đã đơm hoa kết trái, bao mối tình đa thành cổ tích từ phiên chợ đêm âm dương này.
Chợ âm dương vẫn lưu luyến kẻ đến người đi. Trong khói, trong sương, trong tiếng chân bịn rịn, vẫn văng vẳng câu ca “đến hẹn lại lên”.
Trần Dương