Mới đây, tại Hà Nội, Cục quản lý cạnh tranh (Bộ Công Thương) – cơ quan điều tra vụ kiện điều tra áp dụng biện pháp tự vệ đối với mặt hàng kính nổi đã tổ chức buổi tham vấn để các bên liên quan bày tỏ quan điểm về kết quả điều tra sơ bộ mà Cục đã đưa ra trước đây.
Ngày 1/7/2009, Bộ Công Thương đã ra Quyết định điều tra áp dụng biện pháp tự vệ đối với mặt hàng kính nổi. Mặt hàng này được nhập khẩu vào Việt Nam từ các nước và vùng lãnh thổ khác nhau. Nguyên đơn của vụ việc gồm Công ty kính nổi Viglacera (VIFG) và Công ty liên doanh kính nổi Việt Nam (VFG). Bị đơn là hơn 100 nhà nhập khẩu và doanh nghiệp xuất khẩu nước ngoài.
Kết quả kinh doanh của VFG đang giảm sút nghiêm trọng do kính nhập khẩu
Lý của nhà nhập khẩu
Các nhà xuất khẩu từ các nước Thái Lan, Indonesia, Ấn Độ… đều cho rằng, mặc dù trong năm 2009, thị phần của các nhà sản xuất Việt Nam giảm nhiều so với năm 2008, nhưng quý 1/2009 vẫn chiếm trên 70%. Đây là một thị phần cao đối với sản xuất nội địa khi chỉ có 2 doanh nghiệp. Các nhà sản xuất Việt Nam sử dụng công nghệ với dầu F.O làm nhiên liệu, trong khi ở Indonesia, 100% nhà máy áp dụng công nghệ sản xuất bằng gas, nên chi phí sản xuất kính của Indonesia thấp hơn và sức cạnh tranh của hàng hóa tốt hơn. Về thiệt hại, một trong hai nhà sản xuất bị lỗ 80 tỷ đồng, tương đương 5 triệu USD là con số của cả quá trình sản xuất chứ không phải lỗ riêng trong giai đoạn điều tra. Ngoài ra, các nhà xuất khẩu còn cho rằng, trong thời kỳ khủng hoảng, các nhà sản xuất Việt Nam vẫn giữ giá bán rất cao, trong khi các nhà sản xuất nước ngoài đã linh hoạt điều chỉnh giá để giảm lượng tồn kho và đảm bảo luồng tiền.
Đại diện các nhà nhập khẩu (Công ty TNHH Thương mại, dịch vụ, sản xuất Quang Vinh; Công ty cổ phần Sản xuất, thương mại, dịch vụ Phú Phong; Công ty TNHH Sản xuất, thương mại, dịch vụ Hồng Quý, Công ty cổ phần Kính Thuận Thành) thì cho rằng, chỉ trong 4 tháng vừa qua, 2 nhà sản xuất trong nước đã tăng giá 6 lần với mức tăng tương đương 33%. Trong thời gian này, giá dầu tăng chỉ khoảng 3 - 4% và với 1m2 kính sản xuất thì chi phí nhiên liệu chỉ chiếm 35%. Trong khi đó, hai nhà sản xuất trong nước là VIFG và VFG không đa dạng hóa sản phẩm như các nhà xuất khẩu nước ngoài. Cả hai doanh nghiệp này đều chỉ sản xuất loại kính có độ dày từ 12mm trở xuống, quy cách cũng chưa đáp ứng nhu cầu thị trường, do đó không đảm bảo việc sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp gia công. Kế hoạch của nhà sản xuất trong nước là nâng cao chất lượng sản phẩm, nhưng việc này khó thực hiện vì hiện chu kỳ lò đã đến chu kỳ cuối. Về việc doanh nghiệp sản xuất nội địa bị tồn kho lớn, theo các nhà nhập khẩu, là do các nhà sản xuất luôn duy trì công suất 90%, trong khi để giảm lượng hàng sản xuất ra thì công suất này chỉ nên ở mức 60 - 70%.
Về lao động, VFG và VIFG chiếm khoảng 20% lao động của các nhà sản xuất sau kính, mà từ năm 2008 tất cả các doanh nghiệp đều phải chịu sự biến động về lao động nên việc giảm lao động của hai doanh nghiệp sản xuất nội địa là một vấn đề hoàn toàn bình thường. Ông Lương Trọng Tuấn, Tổng giám đốc Công ty Phú Phong - cũng là một bị đơn, cho biết, VIFG là một công ty liên doanh, phần vốn của nước ngoài (Nhật Bản) chiếm tới 70%. Trong khi đó, có tới 30 - 40 nhà nhập khẩu đồng thời đều là các doanh nghiệp sản xuất trong nước, họ vừa nhập vừa mua kính nổi từ VIFG và VFG để làm nguyên liệu sản xuất ra kính thành phẩm. Vốn đầu tư của các doanh nghiệp này nếu cộng lại chắc chắn sẽ lớn hơn VIFG, VFG; số lao động cũng cao hơn (khoảng 5.000 người so với khoảng 1.000 người của VIFG, VFG). “Như vậy, cần bảo vệ độc quyền của hai doanh nghiệp hay bảo vệ 30 - 40 doanh nghiệp cũng thuộc ngành sản xuất kính nói chung?” - ông Tuấn đặt câu hỏi.
… và thực tế
Tuy nhiên, kết quả điều tra của Cục Quản lý Cạnh tranh cho thấy, năm 2007, lượng kính nổi nhập khẩu về chỉ mới ở mức 9.779,5 MT, đến năm 2008 con số này đã tăng vọt lên 33.765 MT và chỉ ba tháng đầu năm 2009 đã là 14.696 MT. Báo cáo điều tra cho thấy, lượng nhập khẩu năm 2008 tăng gấp 6 lần so với năm 2006. Riêng về giá trị kim ngạch nhập khẩu có sự tăng dần vào giai đoạn 2006 - 2007, tăng cao đột ngột vào năm 2008 và đạt đỉnh điểm vào quí 1 - 2009. Việc tăng này đã kéo theo thị phần kính nổi nhập khẩu tăng đột biến từ 4% năm 2006 – 2007 lên 16,5% trong năm 2008.
Đại điện nguyên đơn khẳng định, kính ngoại đã làm giảm thị phần của các nhà sản xuất từ 97,4% năm 2006 xuống còn 73,6% quý 1/2009. Hệ quả là doanh thu và lợi nhuận của VFG và VIFG đều sụt giảm nghiêm trọng, nhiều công nhân bị mất việc hoặc phải luân phiên nghỉ. Tình trạng khó khăn khiến hai công ty nguyên đơn có thể phải rút khỏi thị trường. Đại diện nguyên đơn nói trên nhận định: “Điều này đồng nghĩa với việc xóa sổ nền sản xuất kính nổi nội địa - một ngành mà chi phí để gây dựng là rất lớn”.
Ông Hạ Bá Phong - Giám đốc VIFG, cũng phản bác nhận định cho rằng các doanh nghiệp sản xuất trong nước chưa đủ năng lực để đáp ứng nhu cầu thị trường về số lượng, chủng loại, chất lượng sản phẩm. Theo khảo sát, nhu cầu đối với loại kính có độ dày từ 12mm trở lên chỉ chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng sản lượng tiêu thụ (khoảng 10%). Do hiệu quả kinh tế của loại kính này chưa cao nên các nhà sản xuất trong nước chưa chú trọng đến chủng loại sản phẩm này chứ không phải do hạn chế về năng lực sản xuất. Các dây chuyền sản xuất hiện có tại 2 nhà máy của VFG và VIFG đều có thể sản xuất được loại kính trên 12mm. “Chất lượng sản phẩm kính nổi trong nước tuân thủ tiêu chuẩn TCVN 7218:2002 và TCVN 7529:2005, nên lo ngại về chất lượng sản phẩm là hoàn toàn thiếu căn cứ”, ông Phong cả quyết. Thực tế này đã được cơ quan điều tra khẳng định.
|
250% là mức cung của mặt hàng kính nổi năm 2010 so với năm 2009 |
Thông tin mới nhất về vụ kiện từ Cục Quản lý Cạnh tranh cho biết: Bộ Công Thương vừa đồng ý gia hạn thời gian điều tra áp dụng biện pháp tự vệ đối với mặt hàng kính nổi. Theo quy định của pháp luật Việt Nam, vụ việc sẽ kết thúc chậm nhất vào ngày 28/2/2010. Được biết, trong một vài tháng gần đây, thị trường kính xây dựng nói chung và kính nổi nói riêng đã có dấu hiệu tích cực hơn. Tuy nhiên, lượng tồn kho kính thành phẩm của doanh nghiệp sản xuất trong nước hiện nay vẫn ở mức cao. Trong khi đó, một số nhà máy kính nổi đã giãn tiến độ xây dựng từ giai đoạn trước sẽ đi vào hoạt động vào đầu năm 2010 như Chu Lai, Ninh Bình, đẩy mức cung trên thị trường nội địa lên 250% so với năm 2009.
|
Hai nguyên đơn VFG và VIFG yêu cầu Bộ Công Thương áp dụng biện pháp tự vệ với mức thuế tuyệt đối 0,6 USD/m2 đối với kính nhập khẩu (không phân biệt xuất xứ) trong thời gian 4 năm. Đồng thời, trước mắt áp dụng ngay biện pháp tạm thời là đưa ra mức thuế nhập khẩu chung 40% đối với mặt hàng này (không phân biệt nước nhập khẩu) trong thời gian 200 ngày. Như vậy, ngoài mức thuế suất thông thường đang áp dụng trong khu vực ASEAN là 5%, ngoài khu vực là 40%, kính nổi nhập khẩu được đề nghị phải cộng thêm 40% thuế suất cho mỗi lô hàng khi nhập khẩu vào Việt Nam. |
Hương Viên