Từ một nước xuất khẩu ròng than với khối lượng bình quân 15-20 triệu tấn/năm, vào năm 2012 Việt Nam sẽ bắt đầu việc nhập khẩu than và trở thành một nước nhập khẩu ròng với khối lượng dự tính lên tới 100 triệu tấn/năm vào giai đoạn 2020 - 2025.
Tuy nhiên, mua than ở đâu lại là vấn đề không dễ có câu trả lời. Trên thực tế, các doanh nghiệp trong nước đang đầu tư vào sản xuất điện than như Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản (TKV), Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PVN) và Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) cùng với các nhà đầu tư tư nhân khác đã bỏ không ít công sức đi tìm nguồn than nhập trong khoảng 3 năm trở lại đây song vẫn chưa có kết quả khả quan.
Trông chờ than giá rẻ
Ông Phạm Lê Thanh - Tổng giám đốc EVN, đơn vị gánh trên vai trách nhiệm chính về đảm bảo điện cho nền kinh tế cho hay, EVN đã đi tìm mua than cho các nhà máy điện từ cách đây 2 năm nhưng tới giờ vẫn chưa đạt được kết quả nào. Lý do thì có nhiều nhưng chủ yếu là bởi giá than quốc tế cao hơn rất nhiều so với giá than trong nước mà các nhà máy điện của EVN đang nhận.
Ông Nguyễn Chiến Thắng - Phó tổng giám đốc TKV cho hay, trong năm qua, không có một nhà đầu tư trong nước nào đến làm việc với TKV về việc nhập khẩu than cho nhà máy nhiệt điện mà họ định xây dựng. Vì thế, hợp đồng nguyên tắc mà TKV ký với PT Berau Coal (Indonesia) và Maintime Hong Kong với thời hạn trong 10 năm vẫn không thể đàm phán hơn được gì vì không có đầu ra.
Dĩ nhiên là TKV thì không muốn nhập khẩu than để sản xuất điện cho dù họ có bạn hàng như nói trên. Với trách nhiệm của một doanh nghiệp nhà nước được giao khai thác than để cung cấp cho nền kinh tế nói chung, có thể nhận thấy lượng than mà bản thân TKV sử dụng cho các nhà máy điện của mình chỉ chiếm một phần rất nhỏ so với cung cấp cho các nhà máy điện khác. Đó là chưa kể thực tế than nhập khẩu đắt ít nhất là gấp đôi than sản xuất trong nước.
Đảm bảo nguồn than cung ứng cho các nhà máy nhiện điện
sẽ là bài toán khó đối với Việt Nam trong thời gian tới
Việc các doanh nghiệp nhà nước lớn này không mặn mà nhập khẩu than có lẽ bởi họ đều là... doanh nghiệp nhà nước, bấy lâu vẫn được đảm bảo cung cấp than trong nước với giá rẻ cho sản xuất điện. Cho tới thời điểm hiện nay, duy nhất có nhà máy nhiệt điện than công suất 150 MW của tập đoàn Formosa (Đài Loan) đặt tại Nhơn Trạch (Đồng Nai) là hoạt động theo mô hình nhập khẩu than từ nước ngoài với giá than tính theo các chỉ số của thị trường quốc tế và được chấp nhận giá bán điện biến động theo giá than. Còn lại các dự án nhiệt điện than khác có dự kiến mua than ở nước ngoài vẫn đang giậm chân tại chỗ bởi khó tìm thấy nguồn cung giá rẻ đảm bảo bán được điện hiệu quả..
Ông Tài Anh - Giám đốc CTCP Tư vấn điện 2, nhà tư vấn cho một số các dự án nhiệt điện than lớn đặt tại Vĩnh Tân (Bình Thuận), Duyên Hải (Trà Vinh) và Kiên Lương (Kiên Giang) cho hay, loại trừ yếu tố giá theo thị trường thế giới thì việc đảm bảo nguồn than cung cấp cho các dự án điện là không đơn giản. Nếu cách đây khoảng 5 năm, các đối tác có than xuất khẩu từ Indonesia hay Úc có thể đồng ý ký các hợp đồng dài hạn lên tới 30 năm, nhưng tới năm 2007 thì thời gian đảm bảo cung cấp than chỉ còn là 5 năm và sang năm 2009 các cam kết đã giảm xuống chỉ còn 2 năm. Đây là điều cực kỳ khó khăn đối với các chủ đầu tư dự án nhiệt điện than.
Cần quyết sách mang tính chiến lược
Hiện tại, các nước châu Á đều đề ra những kế hoạch đầy tham vọng cho phát triển các nhà máy nhiệt điện đốt than. Trong giai đoạn 2008 - 2020, Trung Quốc có kế hoạch tăng 249.000 MW, Việt Nam có mục tiêu tăng thêm 116.000 MW, Ấn Độ cũng có mục tiêu tăng thêm 77.000 MW; còn Indonesia - nước xuất khẩu than lớn ở khu vực châu Á - cũng có kế hoạch tăng thêm 55.000 MW. Như vậy, nhu cầu thị trường về than cho nhiệt điện trong thời gian tới vẫn tiếp tục tăng, và câu chuyện nhập khẩu than sẽ không dễ “hạ nhiệt”, nhất là khi than là dạng năng lượng không tái tạo.
Các chuyên gia xây dựng bản đề án nhập khẩu than của Việt Nam cho hay, thị trường nhập khẩu than đã được phân chia cho các nước nhập khẩu truyền thống nên việc Việt Nam mới tham gia sẽ phải đối mặt với những khó khăn nhất định. Đó là đàm phán nhập khẩu số lượng lớn, thời hạn hợp đồng, cơ chế tính giá than và chi phí vận chuyển có nhiều biến động.
Thực tế này cũng cho thấy, để đảm bảo được nguồn than dài hạn thì phương thức mua mỏ hoặc đầu tư vào mỏ có vẻ thích hợp hơn việc tìm được một đối tác đồng ý ký hợp đồng dài hạn. Nhưng để mua được mỏ thì đòi hỏi những khoản tiền lớn phải bỏ ra ngay, trong khi hiệu quả lại chưa nhìn thấy ngay được. Theo tính toán của các chuyên gia, để đầu tư một mỏ than mới ở Úc có công suất khai thác 30 triệu tấn/năm thì chi phí cho đầu tư mỏ và đường sắt là khoảng 8 tỷ USD, như vậy, nếu có nhu cầu 10 triệu tấn/năm thì số tiền cần thiết ít nhất cũng là 2 tỷ USD. Đây là con số không nhỏ. Và nếu xét thực tế những gì đã diễn ra trong việc làm thủ tục đầu tư mua mỏ ngành dầu khí thời gian qua thì có thể thấy việc này không hề dễ dàng. Quá nhiều cấp tham gia xét duyệt vì số tiền đầu tư lớn, dẫn tới mất thời gian và lỡ mất cơ hội.
|
Loại trừ yếu tố giá theo thị trường thế giới thì việc đảm bảo nguồn than cung cấp cho các dự án điện là không đơn giản. |
Theo Nghị định 78/2006/NĐ - CP hướng dẫn đầu tư trực tiếp ra nước ngoài thì với những dự án có quy mô 300 tỷ đồng, tương đương với khoảng 15 triệu USD, sẽ phải trình Thủ tướng Chính phủ ra quyết định. Sau khi có quyết định đầu tư và thỏa thuận với đối tác sẽ còn phải trình xin cấp Giấy chứng nhận đầu tư. Việc phải trải qua nhiều khâu như vậy sẽ khiến cho khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam giảm, nhất là khi các mỏ tổ chức đấu giá quốc tế.
Đó là chưa kể việc đầu tư đội tàu, xây dựng cảng nhập than để có hiệu quả kinh tế tổng thể chứ không chỉ phục vụ quyền lợi của từng doanh nghiệp có nhu cầu nhập khẩu than.
Có lẽ bởi vậy mà TKV, PVN, EVN, trong một đề án thành lập Ban chỉ đạo Nhà nước về nhập khẩu than vừa hoàn tất đã đề nghị Trưởng ban phải là một lãnh đạo Chính phủ để đủ tầm quyết các vấn đề mang tính chiến lược về an ninh năng lượng quốc gia. Tuy nhiên, một khi giá than bán cho điện trong nước hiện nay vẫn chưa theo giá thị trường thì tâm lý ngại đi tìm than sẽ còn là trở ngại không nhỏ cho cả những nhà đầu tư lẫn các cơ quan hữu trách. Hiện tỷ lệ chênh lệch giá bán giữa than dành cho các nhà máy điện trong nước và xuất khẩu lên tới 40%.
Gia Linh