Thứ Ba, 19/01/2010 - 06:40

Cổ phiếu ngân hàng: Kỳ vọng phục hồi

Không phải ngẫu nhiên mà cổ phiếu ngành ngân hàng luôn được các chuyên gia chứng khoán khuyên nhà đầu “nhặt” để cho vào “giỏ” những cổ phiếu tiềm năng, đáng để đầu tư trong năm 2010.

Các chuyên gia cho rằng, sang năm 2010, khả năng nền kinh tế sẽ phục hồi sau khủng hoảng, các doanh nghiệp tăng cường kinh doanh sản xuất, dịch vụ tài chính sôi động. Cổ phiếu ngân hàng đã có thời gian tích lũy khá lâu kỳ vọng sẽ được vực dậy trên thị trường.

Sức bật từ nền tảng tốt

Ông Hoàng Xuân Quyến - Phó Tổng giám đốc công ty chứng khoán Tân Việt nhìn nhận, những tháng đầu năm 2010, dư âm của những khó khăn trong năm 2009 sẽ vẫn còn, tuy nhiên cũng sẽ xuất hiện các nhân tố hỗ trợ cho tăng trưởng của ngành ngân hàng. Cụ thể, đà phục hồi kinh tế của thế giới và Việt Nam sẽ được khẳng định rõ ràng hơn trong nửa đầu năm 2010. Khi có tín hiệu khẳng định sự phục hồi thì ngành ngân hàng, với tư cách là ngành xương sống của các nền kinh tế, sẽ có nền tảng tốt để tăng trưởng. Bên cạnh đó, còn có các yếu tố hỗ trợ sự phát triển của ngành ngân hàng trong năm 2010. Thứ nhất, luật thuế Bất động sản sẽ được đưa vào thực thi, điều này giúp các ngân hàng tăng tính thanh khoản và tránh rủi ro với các khoản nợ xấu từ tín dụng bất động sản. Thứ hai, giá hàng hóa đang có xu hướng tăng, điều này phản ánh nhu cầu tiêu dùng trong xã hội đang gia tăng. Như vậy, bên cạnh mặt tiêu cực là ngân hàng phải tăng cường huy động vốn để cho vay, thì có mặt tích cực là làm tăng vị trí của ngành ngân hàng trong giai đoạn tới, ông Quyến nhận xét. Điểm thứ ba là tỷ giá đã được điều hành linh hoạt và tác động của việc này trong năm 2010 là giúp khơi thông nguồn USD, khuyến khích các doanh nghiệp xuất khẩu trong nước vay vốn kinh doanh.

Đồng tình với quan điểm này, đại diện của một công ty chứng khoán cho biết thêm: “Nếu so với lĩnh vực bất động sản - nhóm cổ phiếu giữ vai trò đầu tàu trong giai đoạn phục hồi của chứng khoán vừa qua, trong năm 2010 ngân hàng sẽ được hưởng lợi nhờ lãi suất cơ bản đã được điều chỉnh lên 8%. Trong khi doanh nghiệp bất động sản, với tỉ lệ nợ vay cao, sẽ phải đối diện với nhiều khó khăn hơn do chi phí đầu vào tăng khi lãi suất vay vốn tăng. Ngược lại, với chênh lệch giữa lãi suất huy động và cho vay khá cao hiện nay, lợi nhuận của ngân hàng dự báo sẽ đạt kết quả tốt hơn trong năm 2010”.

Có thể nói, khá nhiều chuyên gia lạc quan với sự phát triển của thị trường chứng khoán năm 2010, trong đó, họ đều cho rằng cổ phiếu ngân hàng vẫn sẽ là một trong những cổ phiếu có “sức bật” tốt khi kinh tế phục hồi. Điển hình như ông Phạm Quang Huy -tổng giám đốc công ty Chứng khoán Dầu khí chia sẻ:“Định hướng của Chính phủ trong thời gian này sẽ là giữ ổn định vĩ mô và đảm bảo tăng trưởng bền vững, vì vậy thị trường chứng khoán năm 2010 cũng sẽ phát triển ổn định và không quá nóng. Với điều kiện kinh tế vĩ mô như hiện nay thì các hoạt động xuất khẩu, dầu khí, sản xuất vật liệu xây dựng, sản xuất hàng hóa tiêu dùng, tài chính - ngân hàng sẽ là các lĩnh vực có cơ hội để phát triển”.

 Thời điểm tích hợp

Trên thị trường chứng khoán hiện có 6 cổ phiếu ngân hàng đang được niêm yết trên 2 sàn giao dịch với giá trị vốn hóa là 160.540 tỷ đồng, chiếm 27,2 giá trị vốn hóa toàn thị trường. Để hoàn tất kế hoạch chạy đua tăng vốn trước khi năm tài chính 2010 kết thúc, các ngân hàng nhỏ đang ráo riết chuẩn bị kế hoạch niêm yết. Dự kiến, trong năm nay sẽ có gần 10 ngân hàng tham gia vào thị trường chứng khoán Việt Nam. Theo báo cáo phân tích của công ty cổ phần chứng khoán MHB, P/E cổ phiếu các ngân hàng hiện nay là 11 và PB là 2,6  - đang ở mức hấp dẫn để đầu tư dài hạn. “Theo quan điểm của chúng tôi, đầu quý 1/2010 là thời điểm thích hợp để xem xét đầu tư với kỳ vọng vào sự tăng trưởng của ngành ngân hàng vào giữa năm 2010”, báo cáo này nhận định. Trong một báo cáo triển vọng đầu tư năm 2010 vừa được công bố, Công ty chứng khoán Sài Gòn (SSI) cũng đưa cổ phiếu ngân hàng vào nhóm cần quan tâm đầu tư. Theo các chuyên viên phân tích của SSI, một số cổ phiếu ngân hàng hiện có các chỉ số cơ bản như P/E và P/B năm 2010 dự báo ở mức rất hấp dẫn để đầu tư.

Là ngành xương sống của nền kinh tế, ngành ngân hàng
được dự báo sẽ phát triển tốt trong năm nay
 
Tuy nhiên, một chuyên gia trong lĩnh vực chứng khoán cũng khuyên rằng, trong ngắn hạn, cổ phiếu ngân hàng khó tạo được những đợt sóng lớn trên thị trường chứng khoán, vì vậy nó thích hợp với các nhà đầu tư không thích rủi ro và chỉ yêu cầu mức lợi nhuận vừa phải. Mặt khác, do vốn lớn, cổ phiếu ngân hàng có mức thanh khoản cao, thích hợp cho các nhà đầu tư lớn và đầu tư dài hạn. Khi cơn khủng hoảng kinh tế thực sự qua đi, nền kinh tế được vực dậy, ngân hàng rất có khả năng trở lại thành một ngành kinh doanh “siêu lợi nhuận”. Các nhà đầu tư dài hạn ngay từ bây giờ có thể theo sát diễn biến thị trường để xem xét lựa chọn thời điểm hợp lý đầu tư nhằm tạo mức lợi nhuận tối ưu”.

Làm mưa làm gió trên thị trường chứng khoán với vị trí là cổ phiếu được ưa chuộng nhất vào năm 2006 – 2007, cổ phiếu ngành ngân hàng sau đó đã lao dốc liên tiếp hai năm sau. Nhưng đối với những nhà đầu tư nắm giữ và yêu thích cổ phiếu ngân hàng thì vẫn luôn tin và hy vọng vào tương lai tăng trưởng của cổ phiếu này.

So sánh giữa các ngân hàng

* Vietcombank: VCB có những lợi thế rất riêng biệt và là cơ sở rất tốt cho sự phát triển bền vững trong tương lai. Đó là quy mô, thương hiệu, nguồn khách hàng, hệ thống hạ tầng công nghệ, đội ngũ nhân sự, vốn góp tại nhiều tổ chức kinh tế lớn và đặc biệt là vị trí số 1 về thanh toán quốc tế và thẻ tại Việt Nam. Tuy nhiên, với nguồn gốc là một NHTM Nhà nước, VCB cũng có một số vấn đề liên quan đến quản trị doanh nghiệp và quản trị rủi ro.

* Vietinbank: Vietinbank là một ngân hàng lớn về quy mô. Xuất thân từ một ngân hàng chuyên về công - thương nghiệp nên Vietinbank có những khách hàng truyền thống thuộc những ngành kinh tế mũi nhọn như dầu khí, năng lượng, xây dựng. Hai tài sản đáng giá và tạo nên sự khác biệt của VietinBank là mạng lưới chi nhánh và bất động sản. Vietinbank đang sở hữu nhiều bất động sản với chi phí rất thấp và mạng lưới của Vietinbank có tới 750 chi nhánh, phòng giao dịch, chỉ đứng thứ 2 sau Agribank. Điểm cần lưu tâm với VietinBank là ngân hàng có hiệu quả hoạt động không cao, mức độ đa dạng hóa nguồn thu thấp và vẫn phải phụ thuộc nhiều vào nguồn thu từ lãi.

* ACB: Mặc dù nhỏ hơn Vietcombank và Vietinbank nhưng ACB là một ngân hàng có mức tỷ suất lợi nhuận trên vốn (ROE) cao nhất trong hệ thống ngân hàng. Có được điều này là vì ACB đã đa dạng hóa hoạt động kinh doanh và có chính sách quản trị rủi ro rất tốt. ACB với chính sách cho vay cẩn trọng nên có tỷ lệ nợ xấu dưới 1%. Ngoài nguồn thu từ lãi, ACB còn có nguồn thu ổn định từ phí giao dịch vàng, chứng khoán và lợi nhuận từ kinh doanh vàng, chứng khoán. Đội ngũ nhân sự của ACB cũng là những người nhiều kinh nghiệm và thành thạo trên thương trường.

*  Sacombank: Nếu so sánh với VCB và ACB thì STB không bằng về quy mô, mức sinh lời và chất lượng quản trị. Tuy nhiên, nếu so sánh với các NHTM cổ phần khác, STB có những lợi thế nhất định. Sacombank có mạng lưới chi nhánh đứng thứ 4 tại Việt nam, chỉ sau 3 NHTM Nhà nước là Agribank, BIDV và Vietinbank. STB có thị phần khá tốt ở mảng khách hàng người Hoa và khách hàng SMEs. STB cũng là một thương hiệu được nhiều người biết đến và cũng đa dạng hóa hoạt động sang kinh doanh vàng và chứng khoán.

*  EIB: Hiện nay Eximbank đang thu hút được rất nhiều sự quan tâm của các nhà đầu tư trong và ngoài nước, đặc biệt một số định chế tài chính quốc tế rất muốn hỗ trợ Eximbank về cách thức quản trị ngân hàng hiện đại. Với ban điều hành có năng lực quản lý tốt, kinh nghiệm lâu năm trong ngành ngân hàng và đội ngũ cán bộ được đào tạo chuyên nghiệp, trẻ trung, nhiệt huyết, Eximbank hoàn toàn có khả năng đạt được mục tiêu đã đề ra trong chiến lược 5 năm 2005 - 2010. Tuy nhiên, hạn chế hiện nay là bộ phận quản trị rủi ro của Eximbank vẫn còn kiêm nhiệm tại các phòng nghiệp vụ nên khả năng quản lý tập trung để phát hiện và ứng phó các sự cố chưa được chặt chẽ. Hệ quả là tỷ lệ nợ xấu/tổng dư nợ năm 2008 tại Eximbank là 4,71% (sát với mức trung bình ngành là khoảng 5%), trong khi tỷ lệ này trong các năm 2006, 2007 luôn được duy trì ở mức thấp (dưới 1%).

(Nguồn SSI và TAS)

Các ngân hàng chạy đua tăng vốn điều lệ

Liên tục trong hai tháng cuối năm 2009, Ngân hàng Nhà nước đã phê duyệt các kế hoạch tăng vốn điều lệ cho 5 ngân hàng cổ phần. So với con số trung bình 1 ngân hàng được phê duyệt mỗi tháng của những tháng trước đó thì đây là một tín hiệu mới. Ngân hàng Phương Đông (OCB) vừa hoàn thành việc bán thêm 5% cổ phần thông qua việc phát hành riêng lẻ 12,3 triệu cổ phiếu của mình cho đối tác nước ngoài BNP Paribas, nâng tỷ lệ sở hữu của đối tác này lên 15%. Số vốn này sẽ giúp cho ngân hàng hoàn thành việc tăng vốn điều lệ lên 2.000 tỷ đồng vào trước ngày 30/12/2009. Ông Trần Văn Vĩnh, Tổng giám đốc OCB cho biết thêm, ngân hàng này cũng đang chuẩn bị phát hành 600 tỷ đồng trái phiếu chuyển đổi để cuối năm 2010 chuyển thành cổ phần và chuẩn bị huy động 400 tỷ đồng thông qua bán cổ phiếu trong năm nay.

Ngân hàng TMCP An Bình (ABBank) vừa qua cũng đã phát hành bổ sung gần 18 triệu cổ phiếu cho cổ đông chiến lược nước ngoài là Maybank với giá bán 20.000 đồng/cổ phần, nâng tỉ lệ sở hữu của cổ đông này từ 15% lên 20%. Động thái này đã giúp nâng mức vốn điều lệ của ngân hàng lên 3.482 tỉ đồng và là một trong các ngân hàng sớm về đích theo lộ trình tăng vốn của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam vào ngày cuối cùng của năm 2009. Điểm giống nhau giữa OCB và ABBank là họ đều dựa vào đối tác nước ngoài để tăng vốn. Trong số các ngân hàng được phép tăng vốn có đầy đủ các ngân hàng hàng đầu gồm Eximbank, ACB, Sacombank, Techcombank, hay những ngân hàng nhỏ như Việt Á, Bắc Á và Đệ Nhất…. Eximbank trở thành ngân hàng cổ phần có vốn điều lệ lớn thứ 3 sau Vietcombank và Vietinbank với số vốn điều lệ 8.800 tỷ đồng và theo sau là ACB 7.814 tỷ đồng. Lẹt đẹt với số vốn 1.000 tỷ đồng vẫn còn một số ngân hàng như ngân hàng Đệ Nhất, PG Bank và Kiên Long. Trong số 21 ngân hàng được phép tăng vốn điều lệ trong năm 2009 thì có tới 50% số ngân hàng có vốn điều lệ dưới 3.000 tỷ đồng. Cuộc cạnh tranh giữa các ngân hàng trong việc thu hút tiền góp vốn từ các cổ đông rõ ràng sẽ quyết liệt hơn rất nhiều, bởi mới chỉ có 21 ngân hàng trên tổng số 43 ngân hàng cổ phần tại Việt Nam được phép tăng vốn.

Gần 7 tỷ USD kiều hối năm 2009

Theo thống kê, lượng kiều hối chuyển qua các ngân hàng trên địa bàn TPHCM trong năm 2009 giảm 20% so với năm trước đó, đạt 3,2 tỷ USD. Tương tự như các năm trước, nguồn kiều hối chuyển về Việt Nam vẫn chủ yếu là từ Mỹ, Anh và Úc. Tuy nhiên, lượng kiều hối chuyển về Việt Nam để trợ cấp, biếu, tặng người thân của kiều bào trong dịp cuối năm nhiều hơn so với số tiền người lao động xuất khẩu gửi về do nhiều lao động xuất khẩu của Việt Nam đã phải về nước sớm do ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính toàn cầu. Ngân hàng Nhà nước dự tính cả năm tổng lượng kiều hối sẽ đạt khoảng 6,8 tỷ USD, giảm 20% so với năm 2008. Trung bình, kiều hối chuyển về TPHCM thường chiếm hơn 50% lượng kiều hối chuyển về Việt Nam.

 
Hải Nam
search