Thứ Hai, 01/02/2010 - 4:25 AM
Cần cẩn trọng khi tăng giá than
Đề nghị tăng giá than cho sản xuất điện của Tập đoàn Công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam (TKV) lên xấp xỉ với giá thị trường thế giới có thể là cần thiết. Nhưng chấp nhận đề nghị tăng giá than của TKV cũng đồng nghĩa với việc giá điện sẽ tăng mạnh và còn có thể kéo theo một trào lưu tăng giá mới.

Chi phí sản xuất than hiện đang tăng lên do điều kiện khai thác
ngày càng khó khăn hơn và các chí phí đầu vào khác cũng tăng cao
Bàn về câu chuyện này, một thực tế cần được lưu ý là lượng than mà TKV cung cấp trong nước hiện chiếm khoảng 50% sản lượng mà Tập đoàn này khai thác được. Năm 2009, lượng than xuất khẩu của TKV là 22,5 triệu tấn và tiêu thụ trong nước khoảng 19,5 triệu tấn. Riêng lượng than tiêu thụ cho sản xuất điện trong nước đã là 7 triệu tấn. Nhu cầu than dành cho sản xuất điện sẽ còn tăng lên nhanh chóng với sự có mặt ngày càng nhiều của các nhà máy điện chạy bằng than đang được lên kế hoạch xây dựng. Theo dự báo, việc nhập khẩu than từ nước ngoài sẽ được bắt đầu vào năm 2012 với khối lượng khoảng 8 triệu tấn/năm.
Đành rằng giá phải lên…
Hiện tại, giá than bán cho điện thấp bằng phân nửa giá than xuất khẩu cùng chủng loại, còn giá than bán cho một số hộ tiêu thụ lớn khác tuy có tăng nhưng cũng chưa bằng giá than xuất khẩu. Như vậy, có thể thấy rõ nguồn lợi nhuận của TKV đang đến từ việc xuất khẩu than. Chẳng vậy mà lượng than xuất khẩu từ năm 2005 trở lại đây vẫn đều đặn tăng và đang dao động quanh mức 20 triệu tấn/năm, dù việc hạn chế khai thác các tài nguyên hóa thạch không tái tạo liên tục được cảnh báo.
Tuy nhiên, với xu hướng xuất khẩu trong vài ba năm tới sẽ không nhiều như thời gian qua, thậm chí, nhập khẩu than cho sản xuất điện sẽ gia tăng mạnh, có thể nói nguồn thu của TKV chắc chắn sẽ bị ảnh hưởng lớn nếu giá than bán cho điện không tăng.
Các quan chức của TKV khi trao đổi với báo chí về đề xuất tăng giá than cho điện vào cuối năm 2009 đã cho hay, giá thành sản xuất than nói chung đang tăng nhanh, do nhiều nguyên nhiên vật liệu phục vụ cho sản xuất cũng cao lên và TKV đều phải mua theo giá thị trường thế giới. Đơn cử, giá thép chống lò đang được bán theo giá thị trường thế giới bởi các loại thép này phải nhập khẩu do trong nước chưa sản xuất được. Săm lốp ô tô cho vận chuyển than và đất đá cũng bán với giá tương đương thị trường thế giới. Còn giá xăng dầu cũng đã được thả nổi theo giá thị trường quốc tế. Mặt hàng này hiện chiếm không nhỏ trong chi phí giá thành sản xuất than với việc sử dụng ô tô tải trọng lớn để chở than, chở đất đá và các thiết bị san gạt đất hay các thiết bị khai thác than đều chạy xăng hoặc dầu diesel…
Việc áp dụng giá thị trường thế giới ở nhiều yếu tố đầu vào trong sản xuất than khiến giá thành sản xuất than năm 2009 là khoảng 722.456 đồng/tấn, bằng 103,7% so với thực hiện năm 2008.
… nhưng bao nhiêu là hợp lý?
Khi rất nhiều yếu tố đầu vào được áp dụng cơ chế thị trường, mà ở đây là giá thị trường quốc tế, thì việc tính giá đầu ra cũng phải theo cơ chế thị trường, đủ đảm bảo nhà sản xuất thu được lợi nhuận, quay trở lại tái đầu tư cho sản xuất. Bên cạnh đó, câu chuyện đưa tất cả các mặt hàng về cùng một mặt bằng giá sẽ đánh giá được thực chất hơn hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp, khi mà câu chuyện “giá thị trường thế giới” liên tục được cập nhật trong các dự án đầu tư để tính toán hiệu quả.
Tuy nhiên, đây lại là một bài toán khó đối với cơ quan chức năng. Giá điện hiện nay không chỉ đơn thuần mang yếu tố kinh tế mà tác động rất lớn đến an sinh xã hội. Lần tăng giá điện mới đây vào tháng 3/2009, tuy đã đề cập việc giá điện sẽ từng bước tiến tới cơ chế thị trường, nhưng trên thực tế vẫn chưa diễn ra. Trong khi đó, xăng dầu - vốn được xem là huyết mạch của nền kinh tế và đang phải nhập khẩu gần như hoàn toàn - lại có vẻ được áp dụng cơ chế giá thị trường quốc tế một cách dễ dàng hơn.
Câu chuyện tăng giá điện rồi lại phải chấp nhận hạ giá điện cao điểm sáng đã diễn ra trong năm 2009 cũng cho thấy chưa có sự rạch ròi thực sự trong quan niệm “giá thị trường”. E ngại của doanh nghiệp về chuyện “té nước theo mưa” của nhiều mặt hàng không phải là không có cơ sở.
Điện là một mặt hàng thiết yếu của nền kinh tế, nhưng cũng như bất cứ mặt hàng nào khác, người sản xuất điện sẽ chỉ sản xuất nhiều khi lợi ích tỷ lệ thuận với sản lượng. Câu chuyện đến hẹn lại thiếu điện hay các dự án điện của Tập đoàn Điện lực (EVN) phải trả lại Nhà nước vì không có vốn đầu tư (các dự án này sau đó được chia cho các doanh nghiệp khác thực hiện nhưng vẫn chưa tiến thêm được là bao) đang cho thấy, nếu không gỡ được nút thắt giá điện thì khó lòng thu hút được vốn đầu tư vào phát triển thêm nguồn điện mới. Vấn đề còn lại ở đây là sự minh bạch và công khai trong tính toán các chi phí liên quan đến giá điện nói riêng và giá các mặt hàng được liệt vào danh mục hàng hóa thiết yếu do cơ quan quản lý nhà nước công bố nói chung. Bên cạnh đó là khả năng giám sát của cơ quan chức năng đối với các mặt hàng đặc biệt này để có phản biện về sự xác đáng của những đề nghị tăng giá.
|
Bộ trưởng Bộ Công thương Vũ Huy Hoàng:
Không gây đột biến cho sản xuất và đời sống nhân dân
Than và điện là hai mặt hàng chiến lược có liên quan mật thiết đến cuộc sống của nhân dân và các doanh nghiệp. Do đó, khi tính toán đến việc tăng giá thì phải đảm bảo nguyên tắc thực hiện theo cơ chế giá thị trường, nhưng mặt khác cần phải có những bước đi thận trọng để không gây những biến động lớn, ảnh hưởng đến sản xuất của các doanh nghiệp, đặc biệt là đời sống của người dân. Với kiến nghị (tăng giá) của EVN và TKV, Bộ Công Thương sẽ phối hợp với Bộ Tài chính và các bộ ngành có liên quan nghiên cứu, tính toán cụ thể.
Dự kiến, trong quý I/2010, sẽ trình Chính phủ những đề xuất các phương án khác nhau đối với giá các loại nhiên liệu, đặc biệt là giá điện và giá than. Theo tôi, tất cả các sản phẩm hàng hóa đều phụ thuộc lẫn nhau. Vì vậy, đối với điện và than thì không thể nói đơn giản rằng giá điện tăng là do giá than tăng, ngược lại cũng không thể nói giá than tăng là do các chi phí khác trong đó có giá điện tăng. Đây là mối quan hệ hữu cơ.
Do đó, khi cân nhắc tính toán việc tăng giá cần phải thực hiện 3 yêu cầu sau: Một, thực hiện ý kiến chỉ đạo của Chính phủ về việc từng bước điều chỉnh giá của sản phẩm theo hướng cơ chế giá thị trường. Hai, điều chỉnh như thế nào để không gây xáo trộn và ảnh hưởng lớn đến sản xuất và sinh hoạt của nhân dân. Ba, điều chỉnh giá thành, giá bán phải dựa trên những tính toán cụ thể, có cơ sở và hợp lý về chi phí giá thành, chi phí sản xuất, lợi nhuận và từ đó dẫn đến giá sản phẩm hợp lý.
Đối với ngành điện, do giá than đã được duy trì ở mức thấp trong một thời gian dài, nên điều chỉnh ngay giá than cung cấp cho điện theo đề xuất của ngành than là mức tăng tương đối lớn và nếu tính toán không cẩn trọng sẽ tác động và ảnh hưởng không nhỏ đến chi phí giá thành điện và từ đó ảnh hưởng đến chi phí sản xuất của toàn bộ nền kinh tế quốc dân cũng như cuộc sống của người dân. Vì vậy, điều chỉnh giá than cho ngành điện cần phải tính toán linh hoạt và thận trọng.
(Nguồn: Vneconomy.com.vn) |
Yên Hưng
Gửi bình luận của bạn
-
gửi ý kiến
-
Họ tên bạn
(*)
-
Email
(*)
-
Nội dung
(*)
-