Chính sách tiền tệ sẽ gặp khó khăn và thách thức trong năm 2010. Vì lẽ đó, có chuyên gia ví von, việc điều hành cần có tầm nhìn của một nhà tiên tri, nhưng lại phải có sự tinh tế của một người thợ kim hoàn!
Các giao dịch về ngoại tệ cần phải được quản lý một cách chặt chẽ để đảm bảo việc điều hành chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước phát huy hiệu quả
Tai cuộc hội thảo nhằm nhận diện cơ hội đầu tư, kinh doanh năm 2010 do Trung tâm thông tin và dự báo kinh tế - xã hội Quốc gia và Báo Đầu Tư tổ chức gần đây, quan điểm được các chuyên gia thống nhất là, nhờ có các biện pháp tiền tệ và tài chính mạnh mẽ chưa từng có trong năm 2009 vừa qua, kinh tế đã bắt đầu có chiều hướng hồi phục. Tuy nhiên, ông Nguyễn Đình Cung, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương cho rằng, sự phục hồi này vẫn là do kích thích kinh tế của Nhà nước chứ chưa phải do tiêu dùng và sản xuất tăng trưởng bền vững. Đặc biệt, không thể xem thường hệ lụy của chính những giải pháp chống suy thoái kinh tế - trong đó, phần cốt lõi là chính sách tài chính tiền tệ.
Tốc độ tăng tín dụng 25-27%, lãi suất thực dương
Trên cơ sở phân tích các giác độ khác nhau của nền kinh tế, TS Vũ Viết Ngoạn cho rằng, mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát sẽ gặp nhiều khó khăn hơn mục tiêu tăng trưởng kinh tế 6,5%. Ông Ngoạn khuyến nghị, cùng với chính sách tài khóa, chính sách tiền tệ cần được duy trì như một bệ đỡ hỗ trợ, khuyến khích và thúc đẩy đầu tư cho nền kinh tế. Cụ thể, việc nới lỏng tổng phương tiện thanh toán và tăng trưởng tín dụng cần được duy trì trong một thời hạn nhất định với mức độ hạn chế, thấp hơn năm 2009.“Để đảm bảo hài hòa giữa các mục tiêu thì tốc độ tăng tín dụng năm 2010 ở mức 25 - 27%”, ông Ngoạn bình luận với góc nhìn của một người đã từng có nhiều năm kinh nghiệm hoạt động trong lĩnh vực ngân hàng.
Có cùng cách đánh giá về bức tranh kinh tế 2010, cũng như cách “kìm cương” chú ngựa lạm phát, TS Nguyễn Thị Kim Thanh, Viện trưởng Viện Chiến lược Phát triển ngân hàng (Ngân hàng Nhà nước Việt Nam) khẳng định, chính sách lãi suất trong năm tới cần được thực hiện theo hướng đảm bảo lãi suất thị trường ở mức hợp lý và thực dương, tạo điều kiện cho các ngân hàng thương mại chủ động trong huy động vốn và doanh nghiệp được tiếp cận vốn với lãi suất phù hợp yêu cầu phát triển sản xuất.
Giải quyết tốt bài toán ngoại hối
Như một vế thứ hai không thể thiếu bên cạnh chính sách tín dụng, chính sách tỷ giá được coi là đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc thúc đẩy sự tăng trưởng bền vững của nền kinh tế.
Từ việc phân tích các mô hình tỷ giá (Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc), GSTSKH Võ Đại Lược, cựu Viện trưởng Viện Kinh tế và Chính trị thế giới, nhận xét: “Tỷ giá VND/USD đã không vận động theo mô hình Nhật Bản, Trung Quốc hay Hàn Quốc mà theo mô hình cố định có điều chỉnh nhỏ, nghĩa là mỗi năm mất giá 1 - 2%. Lạm phát ở Việt Nam hàng năm đều cao hơn Mỹ 5 - 7% mà chỉ điều chỉnh tỷ giá như vậy thì chắc chắn đồng Việt Nam đã rơi vào tình trạng cao giá. Mức cao giá này đã tích tụ lại trong nhiều năm, tác hại tới xuất khẩu và mở cửa ồ ạt cho nhập khẩu, dẫn tới tình trạng nhập siêu”.
Tuy thừa nhận rằng Việt Nam chủ yếu xuất khẩu khoáng sản và nông lâm hải sản - những mặt hàng có giới hạn về trữ lượng và nguồn lực nên dù hạ giá VND cũng không dễ “đẩy” xuất khẩu lên, song ông Lược cho rằng việc đồng Việt Nam hạ giá sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho các ngành công nghiệp chế biến, công nghiệp phụ trợ xuất khẩu. Mặt khác, VND giá thấp còn là một rào cản bảo hộ hữu hiệu đối với hàng sản xuất trong nước. Ông Lược cũng đã lượng định gánh nặng chồng chất thêm trong việc trả những món nợ vay nước ngoài bằng USD, nhưng vẫn cho rằng, nghĩa vụ trả nợ hàng năm không quá lớn, phần lớn là nợ dài hạn nên sẽ được điều chỉnh sau một vài năm…
Tóm lại, theo chuyên gia này, nếu cân bằng lợi hại, những lợi ích thu được từ VND giá thấp sẽ lớn hơn nhiều. GSTSKH Nguyễn Mại, nguyên Phó Chủ nhiệm UB Nhà nước về Hợp tác và Đầu tư cũng đã chỉ ra nghịch lý “trong khi đồng đô la mất giá so với nhiều đồng tiền khác thì nó lại tăng giá đối với VND”, gây ra những bất lợi nhiều mặt cho nền kinh tế nước ta. “Chính sách tỷ giá hối đoái mà các nước lựa chọn không giống nhau, có nước áp dụng tỷ giá cố định khi đồng nội tệ ổn định; có nước thực hiện tỷ giá thả nổi. Những năm gần đây, nước ta lựa chọn tỷ giá ổn định, linh hoạt. Sự lựa chọn đó là đúng đắn, nhưng cần lưu ý rằng việc tồn tại hai tỷ giá ngoại tệ (chính thức và chợ đen, có xu hướng doãng ra khi cung - cầu ngoại tệ căng thẳng) đã tác động trực tiếp đến cả các doanh nghiệp nhập khẩu và doanh nghiệp xuất khẩu”, ông nói.
Trên thực tế, để được cung ứng USD từ ngân hàng, năm 2009, nhiều doanh nghiệp phải “chi phí ngầm” khoảng 1.000 VND khi đổi 1 USD và dĩ nhiên chi phí này không thể hạch toán. Và, mặc dù Nhà nước không cho phép, nhưng giao dịch tại một số “trung tâm ngoại tệ chợ đen” (phố Hà Trung ở Hà Nội là một ví dụ) đang diễn ra khá sôi động và công khai, thậm chí chỉ cần gọi điện thoại đến các chủ cửa hàng tại đây là có người mang đến tận nơi một lượng tiền ngoại tệ lớn (tất nhiên với tỷ giá “chợ đen”)!
Bởi lẽ đó, ngoài việc ổn định giá trị của đồng Việt Nam thông qua hệ thống chính sách tỷ giá khôn khéo, linh hoạt, GS Nguyễn Mại khuyến nghị xây dựng mạng lưới giao dịch ngoại tệ do Ngân hàng Nhà nước hướng dẫn, cấp phép và quản lý. Ông nhấn mạnh, mạng lưới này phải được phân bố hợp lý, thủ tục giao dịch đơn giản, công khai, minh bạch, được hưởng lợi tức giao dịch thỏa đáng.
|
Giá trị danh mục của nhà đầu tư ngoại tăng gần 1,5 tỷ USD
Tại hội nghị triển khai nhiệm vụ phát triển thị trường chứng khoán 2010 ngày 22/1, ông Nguyễn Đoan Hùng, Phó chủ tịch Ủy ban Chứng khoán Nhà nước thông báo, cùng với diễn biến lên xuống của thị trường chứng khoán, dòng vốn của nhà đầu tư nước ngoài cũng có sự thay đổi khá kịch tính. Tính đến tháng 12/2009, giá trị danh mục của nhà đầu tư nước ngoài trên thị trường chứng khoán đạt khoảng 6,6 tỷ USD, tăng gần 1,5 tỷ USD so với đầu năm 2009. Cụ thể, trong quý 1/2009, khi thị trường đi xuống, nhà đầu tư nước ngoài chủ yếu thực hiện rút vốn ra, đưa tổng mức rút vốn trong quý 1/2009 đạt khoảng 530 triệu USD. Tuy nhiên, từ quý 2/2009 đến hết năm, thị trường bắt đầu có dấu hiệu đi lên, nhà đầu tư nước ngoài đã ngừng rút vốn, khiến luồng vốn vào Việt Nam bắt đầu quay trở lại và đạt mức thuần 300 triệu USD. Chỉ riêng trong tháng 10 và tháng 11, dòng vốn thuần vào đã tăng gấp 3 lần so với những tháng đầu năm 2009.
Trong năm 2009, sự kiện đáng chú ý nhất đối với hoạt động của nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam là việc Indochina Capital Vietnam Holdings Limited (ICV) tuyên bố thoái vốn. Giá trị tài sản ròng (NAV) của ICV khi đưa ra tuyên bố thoái vốn ước trên 250 triệu USD, xét về quy mô giá trị cổ phiếu niêm yết thì không quá lớn, nhưng sự kiện cũng khiến thị trường giảm điểm nhiều phiên và gây nên tâm lý không tốt cho nhà đầu tư.
Quang Ngổc |
Ngọc Khánh