Thứ Năm, 28/01/2010 - 04:04

Vết nứt cổng làng tôi

Người đàn ông với mái đầu bạc trắng đứng lặng hồi lâu trước cái cổng làng cũ kỹ rêu phong, bàn tay nhăn nheo lần theo từng vêt nứt của cổng làng. Hơn năm mươi năm phiêu dạt, ước mong cháy bỏng của người lính già là được về thăm quê, được ngắm nhìn cái cổng làng thân thuộc một lần cuối...
 
 
Với người dân vùng đồng bằng Bắc Bộ, cái cổng làng thiêng lắm. Nếu như lũy tre xanh là hàng rào bảo vệ thì cổng làng lại là con mắt của đời sống. Xưa, làng giàu thì xây cổng gạch, vừa vừa thì dựng cửa gỗ, hoặc dựng cọc tre chắn ngang và thay nhau canh gác để bảo vệ bình an cho bà con mỗi khi có xảy ra biến động. Cổng làng mang dáng vẻ trầm mặc ghi dấu ấn văn hóa một thời đánh dấu sự phương trưởng của vùng miền theo thời gian. Không chỉ có thế cái cổng làng còn chứng kiến số phận của biết bao con người từ lúc sinh ra cho đến khi trở về với cát bụi.
 
 
Cách đây chưa lâu tại Nhà Văn hóa Hà Đông, đã trưng bày 84 bức ảnh Cổng làng để minh chứng cho nét đẹp cổ kính rêu phong, đặc trưng văn hóa đồng bằng Bắc bộ còn sót lại với bao ký ức sâu lắng trong lòng người. 84 cái cổng xưa ấy, nhắc nhở về lịch sử và truyền thống đang bị phai mờ dần trong đời sống hiện đại. 

Cổng làng xưa còn có cả cánh cửa, có thể bằng gỗ, bằng tre ngày mở đêm đóng đề phòng kẻ gian. Cổng thường được trổ về hướng Đông Nam , đón gió mát và là nơi chào đón mặt trời mọc. Cánh cửa ấy mở ra mỗi sớm để đón vào làng những phúc lộc và những niềm vui. Dù to hay nhỏ, dù là cổng tre hay tam quan cũng chỉ là cái vỏ bề ngoài, là cái “phần xác” của của cổng làng. Còn hồn cốt của cổng làng chính là các thông điệp của tiền nhân gửi gắm cho lớp hậu thế. Những vùng đất giàu truyền thống khoa bảng ngoài các bức đại tự, các cụ còn cho đắp hoặc viết những câu đối ở hai bên cổng.

Trong nhịp sống hiện đại hôm nay, khi con cái trong làng làm ăn thành đạt quay về bỏ tiền ra xây những cổng làng, nhưng hầu hết nét kiến trúc đều lai căng mất đi dáng vẻ thuần Việt. Để khoe cái sự học đòi và cái nghèo nàn, lười nhác về tư duy, đây đó đã đua nhau xây những cổng chào ở ngay đầu thôn, đầu xã. Có những cổng chào to đến mức khó tưởng tưởng nổi, vì ở ngay sát chân đê, nên nó càng thêm chướng mắt. Vốn liếng để dựng nó tôi tin rằng thừa thãi để tập trung xây một cái cổng làng thực sự với cấu trúc văn hóa mang âm hưởng dân gian êm đềm.

Giờ đây, những cái cổng chào rỗng ruễnh, ngơ ngác trước con đường làng nhỏ bé – khiến nhiều người chưng hửng. Đúng không thể gọi là cổng làng được. Với những cái cổng chào thô kệch như thế còn đâu vẻ văn hóa tâm linh đã ghi sâu vào xương tủy và tâm hồn người dân đất Việt. Để biện minh cho cái sự “phá phách” ấy có người cho rằng trong các làng quê đã mọc lên nhiều nhà cao tầng, đời sống kinh tế được nâng cao, cái cổng làng nhỏ bé ngày xưa ấy không còn phù hợp, nó bít kín lối đi của những chiếc xe máy, ô tô, gây cản trở giao thông cần phải được loại bỏ. Cái cổng làng ấy, thậm chí cả cái cổng chào đầy tốn kém kia cũng nên vứt bỏ. Nhiều làng đã thực hiện đúng như thế, không có cổng làng, không cả cổng chào và thay vào đó là một con đường trống trải bụi mù mỗi khi có làn xe qua lại. Có làng đổ những cột trụ bê tông to đùng, gắn vào đó một tấm bảng bê tông to cũng không kém đề mấy chữ “Làng văn hóa”… Làng thì thay cổng làng, cổng chào bằng chiếc "barie" để thu tiền khách qua đường. Nhất là vào các ngày lễ hội thì cây tre chắn ngang là một thái độ rất thị trường thay cho một sự rung rinh của hàng rễ cây rủ xuống cổng làng xưa cũ. Lại nhớ cổng làng Nhị Khê(huyện Thường Tín) có bốn chữ lớn “Như lễ đại tân”, cổng này dựng gần đền thờ cụ Nguyễn Trãi nên còn có tên gọi là cổng Quốc. Tương truyền để tỏ lòng tôn kính với bậc tiền nhân, mỗi khi đi đến của này cụ Lương Văn Can đều xuống xe đi bộ về nhà... 
 

Từ xưa các cụ đã có câu “nhà có nóc, làng có cổng”, để nhắc nhở con cháu nhớ cổng làng là một phần tất yếu của ngôi làng truyền thống. Nó không chỉ là phương tiện đề phòng trộm cướp địch họa mà còn là hình ảnh thân thuộc của mỗi người. Ngày nay, Hà Nội còn nhiều cổng làng đẹp, khu vực Kẻ Bưởi(Thụy Khuê) mặc dù đã lên phường từ lâu nhưng vẫn giữ được hồn cốt xưa qua những chiếc cổng làng. Theo nhà nghiên cứu Vũ Khiêm Ninh, Hà Nội cũ có khoảng 109 cổng làng cổ - chắc con số này ít hơn nhiều so với thực tế. Với Hà Nội mở rộng như hiện nay con số đó sẽ còn tăng lên gấp nhiều lần, bởi mảnh đất xứ Đoài rộng lớn còn rất nhiều cổng làng nổi tiếng như Đường Lâm, Ước Lễ, Phùng Xá…

Giờ đây thật hiếm có những làng có hai cổng như xưa, cổng trước, cổng sau của làng. Đầu làng cuối làng không còn trật tự và những quy ước rạch ròi như xưa. Cổng tiền để đón những niềm vui sinh sôi trong lao động và hạnh phúc, còn cổng hậu là tiễn đưa những vướng bận buồn rầu của người đời. Tất nhiên cũng còn nhiều làng còn giữ được những cổng làng đẹp như Ninh Hiệp, Đông Ngạc, Làng Sủi (Hà Nội), Đường Lâm (Hà Tây), Thổ Hà (Bắc Ninh)... Nhưng đó cũng là những hình ảnh hiếm hoi còn đọng lại trong tâm trí du khách. Dường như nhiều cổng làng đã bị chôn vùi vào dĩ vãng. Làng Cựu Đà, một ngôi làng cổ đẹp vào loại nhất nhì miền bắc, trục chính của làng bám theo dòng sông Nhuệ. Từ trục chính này các con ngõ tỏa đi, mỗi con ngõ là một cái cổng. Nếu như không vì nghề làm miến, làm tương khiến cho con sông Nhuệ bị ô nhiễm nặng thì với những cổng làng cổ, những ngôi nhà cổ, những biệt thự cổ được xây dựng từ đầu thế kỷ 20 sẽ là một địa chỉ hấp dẫn khách du lịch. Thế vậy mà chỉ vì chở miến thấy vướng mà cánh trẻ đã phá mất ba cổng, nhiều cái cũng bị vạc đi hai bên cổng để đi lại cho tiện…

Có làng, có thôn xin được tài trợ nhưng để tập trung xây trụ sở Ủy ban thật sang trọng, thật bề thế để khoe với thiên hạ và đã quên bẵng đi rằng bao đời nay cái cổng làng mới là cửa ngõ tinh thần đời sống cây lúa, là nhịp đập của thời gian và là cái hồn cốt của lũy tre, mái ngói, hàng cau. Để rồi khi nhìn những con đường vào làng cứ trống huếch trống hoác, đơn điệu và vô cảm, chẳng còn phân biệt đâu là đầu làng cuối làng nữa – lại thấy thương cho những lũy tre, thấy buồn cho những câu hát và thấy tủi cho những lá cờ ngày hội, ngày lễ, vì thiếu vắng những cổng làng để làm điểm tựa cho dấu tích đời sống.

Đừng đổ cho cơ chế thị trường và tốc độ đô thị hóa nông thôn mà bỏ đi những cổng làng quen thuộc. Cố giáo sư Từ Chi qua không gian văn hóa làng, thì cho rằng cổng làng có vị trí quan trọng trong đời sống thực và đời sống tâm linh của con người. Ông nói thế bởi lẽ, dù có đô thị hóa đến đâu, làng vẫn là làng, không thể là phố, nghĩa là các ngôi nhà cao tầng hay biệt thự vẫn ở trong phạm vi của làng thì chúng càng trở nên dấu ấn thẩm mỹ cao hơn nếu thông qua một cổng làng đậm sắc thái cổ phong với những đường cong của mái cổng và những hoa văn xứng đáng đúng tầm của làng văn hóa. Trong lần Chủ tịch Tập đoàn Microsoft Bill Gates đến xóm Tư, thôn Dương Sơn, xã Tam Sơn (Từ Sơn - Bắc Ninh) để thăm và khơi dậy dự án cung cấp máy tính giá rẻ đã phải ngạc nhiên với cổng làng cổ ở đây và cuộc họp báo đã diễn ra ở ngay cổng làng. Vậy đấy, dấu ấn cổng làng đã được ghi thêm những nét đẹp của cuộc sống mới và chúng trở nên có ý nghĩa biết bao, đúng như xưa các cụ nói: Cổng làng là lời chào là nơi đón những điều hay lẽ phải như cơn gió mát tràn vào thôn xóm.
 

Trong các hoạt động chào mừng hướng tới đại lễ 1000 năm Thăng Long, có người đã đề xuất cần xây dựng lại những cổng làng tại những làng ven đô, những cửa ngõ (cửa ô cũ) vào thành phố để tôn vinh giá trị văn hóa truyền thống. Đây là một việc làm rất có ý nghĩa nhưng, xây ở đâu, xây như thế nào chắc chắn phải có sự tham vấn rất kỹ lưỡng và cụ thể từ các nhà chuyên môn…

Bên cạnh cây đa, giếng nước, đình chùa, cổng làng bao giờ cũng là tình cảm hồ hởi, lời chào mời nồng nhiệt nhất của dân làng với du khách đến thăm. Và tại nơi dừng chân trước lúc đi xa hay trở về này luôn ẩn dấu những nét đẹp bí ẩn và đầy hấp dẫn của mỗi miền quê. Khi tiếng cót két của những thớ gỗ cũ kỹ vang lên, cánh cổng mở ra tôi lại nhớ đến những câu thơ của một nhà thơ nào đó: Lời bà ru như ngọn đèn soi từng trang sách mở: - Bao tướng tá, nhà văn, tiến sĩ… Sinh ra từ vết nứt cổng làng tôi...
Trần Dương
search