Thủ phủ vương quốc Đại Lý nhà họ Đoàn từng một thời vang bóng đón chúng tôi bằng những cơn gió lạnh thấu xương. Thúy, cô hướng dẫn viên người Trung Quốc cười: “Có câu Thượng quan phong, hạ quan hoa. Thương Sơn tuyết, Nhĩ Hải nguyệt. Gió cũng là đặc sản của Đại Lý đấy. Còn nhiều ngạc nhiên chờ mọi người lắm...”

Người xưa người đâu nhỉ ?
Về câu thành ngữ Thượng quan phong, hạ quan hoa. Thương Sơn tuyết, Nhĩ Hải nguyệt, Thuý giải thích vùng Đại Lý gió thường nổi rất mạnh, trên là gió, dưới mặt đất nở tràn các loài hoa. Thương Sơn vốn là ngọn núi thiêng ở vùng Đại Lý mùa đông luôn có tuyết phủ. Còn vùng hồ lớn nhất xứ Vân Nam trải dài mấy chục cây số, ôm ấp thủ phủ Đại Lý dưới chân dãy Thương Sơn có hình dạng như cái tai nên mới có tên là hồ Nhĩ Hải. Thưởng hoa ngắm trăng trên trời đã tuyệt nhưng cũng không thể sánh được cảnh thần tiên khi chiêm ngưỡng bóng nguyệt long lanh soi trên làn nước xanh hồ Nhĩ Hải. Đứng ở ngôi đền Đạo giáo cheo leo trên lưng chừng Thương Sơn phóng mắt xuống mới thấy hết nét đẹp của thành Đại Lý. Dưới chân núi sừng sững đã mấy trăm năm Tam tháp rêu phong của vương quốc Đại Lý, chùa Sùng Thánh thâm u rộng gần 200 ha có hơn 500 pho tượng dát vàng... Ngọn núi trầm mặc, dưới những tán thông cổ thụ lô xô những ngôi mộ đá cổ màu xám, chúng lặng lẽ cất giữ trong mình vô số điều kỳ bí về vùng đất này.
Theo dấu Trà mã cổ đạo
Hôm sau Thúy đưa chúng tôi đến thăm Bảo Thành Phủ vốn là một đầu mối lâu đời, một trong các mắt xích hình thành Trà mã cổ đạo (con đường buôn bán trà thời cổ) nổi tiếng xưa kia. Trà Phổ Nhĩ là một trong tứ đại danh trà của Trung Quốc, có xuất xứ từ Vân Nam.
Bảo Thành Phủ nay vẫn tòa ngang dãy dọc nhưng không còn cảnh tấp nập người ngựa buôn bán trà như trước mà đã trở thành một địa chỉ văn hóa, một bảo tàng về nghệ thuật thưởng trà của người Bạch. Kiến trúc của dân tộc Bạch thanh nhã mà cũng rất đặc sắc, được xây cất bằng các loại đá đẹp lấy từ Thương Sơn. Điều đáng nói là trong nhà có tới 5 thiên giếng, một để lấy nước thờ cúng, một dành nấu nướng, một tắm rửa, một cho gia súc và một chỉ dành riêng để uống trà. Nghệ thuật thưởng trà của người Bạch khác với người Hán nhưng cũng cực kỳ tinh tế. Những thiếu nữ người Bạch gương mặt hoa xinh ngời, ánh mắt lúng liếng tựa bóng trăng trên hồ Nhĩ Hải vừa múa hát vừa dâng trà cho lữ khách. Đạo trà thứ nhất dùng chén thường với thứ trà đắng dễ chịu. Đạo trà thứ hai là trà ngọt được rót vào loại chén giống như chiếc bát nhỏ, chế từ sữa dê cô đặc thành bánh nướng trên bếp lò, thái ra rồi bỏ vào trà nóng, thêm chút mật ong, vị ngọt thanh nhã. Sang đạo trà thứ ba là trà hồi vị dùng chén nhỏ, trà được ướp thêm vị gừng, mật ong và một số loại thảo dược đặc biệt thơm ngào ngạt, nhấp vào thấy tinh thần nhẹ nhõm, sảng khoái. Tất cả ba đạo trà kể trên đều được các nghệ nhân người Bạch chế bằng loại ấm đất đun than củi trước mặt khách. Hớp xong ngụm trà hồi vị, chủ khách đồng thanh cung kính: “Nâu uẩy ni” (xin cảm ơn). Vị trà râm ran đầu lưỡi rồi lan tỏa khắp cơ thể cảm giác lâng lâng, dễ chịu. Chẳng biết có phải do say trà hay bởi ánh mắt biết nói của thiếu nữ người Bạch đang mềm mại múa kia nữa...
Vị lạt ma và cây sơn trà 500 tuổi
|
Trà mã cổ đạo giờ không còn nhưng không có nghĩa là trà Phổ Nhĩ mất danh tiếng. Trái lại, loại trà này trở nên cực kỳ có giá, càng để lâu càng ngon, càng đắt. |
Khi tôi viết những dòng này không biết giờ đây lạt ma Mạt Tú đã khuất núi hay vẫn còn trên cõi đời? Lệ Giang có dãy Ngọc Long Sơn hùng vĩ tuyết phủ trắng bốn mùa, náu mình trong mây như con rồng đang uốn lượn. Nép dưới chân núi có chùa Ngọc Phong, một ngôi cổ tự của người Tạng. Trong khuôn viên chùa có hai cây ngọc lan đã hơn hai trăm tuổi, nhưng cây sơn trà cổ thụ đã 500 tuổi mới đích thực là bảo vật của Ngọc Phong Tự. Thật ra đó là hai cây hoa trà thân mốc thếch quấn quýt vào nhau không rời. Một cây sơn trà đỏ nở hoa 18 cánh, có 9 nhụy nhưng không thơm. Cây hồng trà còn lại có hoa hình đầu sư tử hương rất thơm. Hai cây sơn trà cổ thụ trên trổ hoa từ tháng 2 đến tháng 5, hoa trà to như những chiếc bát màu đỏ và hồng, nhả hương lừng khắp chùa và quanh vùng.
Lạt ma Mạt Tú đã ngoại cửu tuần, chân đã chậm, tai đã nghễnh ngãng. Ông vào chùa Ngọc Phong từ nhỏ và chăm sóc cây sơn trà cổ thụ từ bấy đến giờ. Thời cách mạng văn hóa, hồng vệ binh kéo đến đòi chặt cây trà bảo vật, lạt ma Mạt Tú nói: “Nếu các người chặt cây trà quý này thì xin cứ giết tôi trước đã”. Nhờ ông mà báu vật và niềm tự hào của chùa Ngọc Phong còn lại đến ngày nay để khách thập phương tới chiêm bái. Lạt ma Mạt Tú thường ngồi một mình trên bậu cửa, ánh nhìn xa xăm.
Thành cổ Lệ Giang từng được ví như Venise của phương Đông bởi lối quy hoạch và kiến trúc độc đáo. Chúng tôi ngồi thưởng trà trong một trong những quán trà treo lồng đèn duyên dáng, trước nhà cong cong cây cầu nhỏ bằng gỗ ngả bóng xuống làn nước trong vắt.
Mấy thiếu nữ người Naxi da bánh mật đặc trưng pha cho chúng tôi đạo trà thứ nhất là loại trà đắng trồng trên núi tuyết, còn gọi là trà tuyết. Sau màn dạo đầu, chúng tôi chuyển sang uống loại trà Phổ Nhĩ được pha chế rất cầu kỳ. Trà trong bình được châm nước sôi vào rồi bỏ qua hai nước đầu, đến nước thứ ba mới rót ra chén. Nhấp vào miệng lập tức cảm nhận vị ngọt, mát và hương thơm dễ chịu. Đạo trà thứ ba luôn là một điều đặc biệt. Loại trà này có tên là trà cổ thành thơm được trồng trên núi tuyết xen lẫn với cây sâm và hoa mộc. Nghệ thuật thu hái, chế biến loại trà cổ thành này cũng rất đặc biệt và cầu kỳ. Chén trà vừa được rót ra, căn phòng lan tỏa một làn hương thơm dìu dịu, ngây ngất...
Hoàng hôn buông chầm chậm xuống cổ thành Lệ Giang tựa nhịp sống của người dân bản xứ nơi đây. Núi Ngọc Long sừng sững một góc trời nhòa dần vào đêm. Tôi chợt nhớ tới cái dáng gầy gò, trầm mặc của lạt ma Mạt Tú ngồi phăng phắc nơi cửa chùa Ngọc Phong. Có lẽ ông cũng đang thư nhàn nhấp chén trà đời sau biết bao dông gió, cay cực.
Đặng Vương Hạnh