Thứ Tư, 24/02/2010 - 05:07

Lúc đi đã vậy, lúc về thì sao...

...Người thề tôi cũng thề/Lúc đi đã vậy, lúc về thì sao?... (Lời quan họ cổ)

Mặc dù vào 13 mới là chính hội Lim, nhưng từ 11, 12 không khí ở đây đã rộn rã lắm rồi. Nằm cách Hà Nội chừng 25km, mảnh đất Kinh bắc này mỗi năm đón hàng vạn du khách về “xem” các “liền anh, liền chị” trẩy hội quan họ. Bây giờ, mỗi khi nhìn cảnh dòng người đông nghịt đổ về đồi Lim, trong tiếng loa đài chát chúa, tiếng văng tục chửi thề…trong tôi lại bừng thức những ấn tượng đẹp về một canh hát quan họ cách đây hơn mười năm.
 

Hôm ấy, trời rét căm căm lại lây rây mưa phùn, tôi đang ngồi uống rượu với mấy bậc đàn anh trong làng văn, thì đột nhiên một ông nổi hứng rủ: “đi nghe hát quan họ đi các ông ơi!”. Tôi thẽ thọt thưa: “Mai mới vào hội cơ mà, bây giờ khuya rồi lại mưa rét thế này thì xem ở đâu?”. Tất cả nhìn chằm chằm tôi hồi lâu, rồi một ông quắc mắt, cao giọng bảo: “Ngớ ngẩn, nghe quan họ mà ra đấy à? Đấy là thứ quan họ hàng chợ, muốn nghe quan họ thứ thiệt phải vào nhà, phải nghe các nghệ nhân hát thâu đêm mới đã…”.

Cậy sức thanh niên, tôi chỉ mặc phong phanh một tấm áo mỏng nên sang đến nơi người rét run cầm cập, thấy vậy chị chủ nhà liền lấy cho tôi một chậu nước nóng để rửa mặt và cho mượn chiếc áo bông. Và có lẽ may mắn nhất là tôi được gặp cụ Trùm Đối - một nghệ nhân cầm trịch canh hát. Rượu được rót ra đầy bát, trầu têm cánh phượng được đem ra... Những miếng trầu thật thơm và cay.

Trong khi đó, các liền anh, liền chị vẫn đang cất giọng hát thiết tha bài “Dọn quán cũng có a bán hàng. Để tôi là tôi xa cách, cũng có a qua đàng, qua đàng vào chơi. Đôi ba người ơi là 3-4 người ơi”. Rộn rã nhất là khi liền anh, liền chị và cả người nghe cùng hòa nhịp: “Đêm năm canh a lính tình tang là em luống chịu ơ lạnh lùng cả năm. Quan họ trở ra về. Khăn áo đây ôi là em gửi lại đây…”. Hôm đó tôi say. Đến giờ tôi cũng chẳng nhớ mình say rượu, say trầu hay say những câu quan họ cổ - thứ quan họ được trình bày bởi những người cũng cổ kính như nó với âm điệu tãi ra, chậm rãi, dùng dắng...

Đêm đã khuya lắm, bên bát cháo nóng cụ Trùm Đối cười: “trời thương nên cho tôi khỏe, vẫn còn hát được. Mấy chục năm qua tiếng hát nó ăn vào máu rồi giờ mà không được hát thì buồn lắm. Thời trẻ tôi xinh, mà lại hát hay nên có lắm người để ý, mà chúng tôi hát là hát đối chứ không phải hát bài nọ nối bài kia như bây giờ. Nhiều khi bên kia ra đối mà mình không đối được thì ức lắm, phải chạy về nhà nhờ cao nhân chỉ giúp…và cứ thế chúng tôi học hỏi để mỗi ngày một giỏi hơn”.  Trong đêm  tiếng quan họ cổ nghe day dứt, buồn bã, đau đáu, tiếng hát của những người cao niên, của những người muôn năm cũ da diết như dứt ruột, như muốn nói rằng cái tình quan họ không thể lạt phai, rằng cái vốn cổ của quan họ gốc không thể mai một được.

Quan họ đã có từ hàng ngàn năm nay, không ai biết chính xác nó có từ bao giờ và vì sao lại có tên gọi này. Có giả thuyết cho rằng Quan họ là thể loại âm nhạc của "Họ nhà quan" nên được gọi là Quan họ. Lại có thuyết cho rằng, có một ông quan cưỡi ngựa đi qua Làng Diềm Xá (xã Hòa Long, huyện Yên Phong), gặp một cô gái đang hát điệu dân ca. Ông quan dừng ngựa lại (họ) để nghe, mê tiếng hát và đặt tên là làn điệu quan họ.

Quan họ là một làn điệu dân ca, một lối hát giao duyên nổi tiếng của vùng đồng bằng Bắc Bộ, Việt Nam mà tập trung chủ yếu ở vùng Bắc Ninh-Kinh Bắc. Nội dung chính trong buổi hát quan họ thường là khi hai bên nam-nữ hát đối nhau. Bên nam gọi là liền anh, bên nữ gọi là liền chị. Các câu hát có thể được chuẩn bị sẵn, nhưng ra đến khi đối đáp nhau thì thường dựa trên khả năng ứng biến của hai bên. Các chàng trai, cô gái xứ sở quan họ hào hứng, hồi hộp đón chờ ngày hội làng, bởi trong những ngày hội đó, họ được thức thâu đêm, suốt sáng để được nghe, được hát và thi hát. Qua đó, họ học thêm ở nhau những câu ca, những làn điệu mới, họ tìm thấy ở nhau sự đồng cảm qua những ánh mắt, nụ cười.

Quan họ như nguồn sữa mẹ dung dưỡng tâm hồn những đứa trẻ của vùng đất này, chính vì thế mà nó tạo nên một sức sống mãnh liệt cho một loại hình văn hóa đặc biệt được muôn đời yêu thích. Theo các nhà nghiên cứu thì các làn điệu quan họ mà hiện nay chúng ta vẫn nghe và xem trên các phương tiện thông tin đại chúng là quan họ hiện đại đã được cải biên. Nhưng giá trị đích thực của lại nằm trong quan họ cổ - tồn tại trong dân và đặc biệt là trong một vài nghệ nhân cao niên ở các làng quan họ.

Đi chơi hội quan họ, người ta hát tế thần, cầu tài cầu may cho mọi người. Quan họ không chỉ được hát trong chính hội, ở các cửa đình, cửa chùa, trên bến, dưới thuyền, mà ở các nhà dân cũng thấy có anh hai chị hai dùng dằng câu hát. Cái tình quan họ, cái chất quan họ xưa cũng khác lắm. Một canh quan họ ngày xưa nó khác lắm, vì tình quan họ mà người ta đến với nhau. Canh quan họ xưa thì dài thê lê có khi là vài ba tiếng, có khi  thâu đêm suốt sáng, có khi “mãn canh, mãn võ” mới thôi.

Người ta gặp nhau hát đối đáp với nhau, để phục nhau mà quý nhau. Để rồi mời nhau về nhà uống chén rượu nhạt, ăn bữa cơm thanh đạm và hát cầu vui cho gia đình. Anh hai thì khiêm nhường, chị hai thì duyên dáng, vừa hát vừa tủm tỉm cười, mắt liếc đưa tình e ấp, chứ đâu có phải thuê mướn, đâu có hát để xin tiền như bây giờ.

Nghệ nhân Nguyễn Thị Nguyên (làng Khả Lễ), là một trong 6 cụ được phong danh hiệu “Nghệ nhân Quan họ” tiêu biểu. Cụ Nguyên bỗng trở nên linh hoạt kỳ lạ khi bàn chuyện hát quan họ. Bố mẹ cụ từng là trùm quan họ, giờ đến lượt cụ Nguyên là một trùm quan họ ở làng Khả Lễ. Cụ tự hào kể "Hồi con gái là tôi "ghê" lắm, người nào lơ mơ tôi hát cho là ... dùng dắng không về được nữa.  Mà hồi ấy sao mà mình khoẻ, hát suốt, lại hát suông, chả cần ăn quất, ăn đường gì để giữ giọng, mà giọng vẫn lanh lảnh!". Cụ cũng từng được mời ra hát cho một đoàn làm phim của Liên Xô ghi hình làm tư liệu. Dù tuổi đã cao, nhưng cụ có thể hát tất cả các điệu và hát liền hằng đêm, kể cả điệu La rằng khó nhất. Chưa bao giờ ghi chép, nhưng cụ thuộc hàng trăm bài quan họ, nhắc đến bài nào cũng có thể hát ngay.

Còn theo nghệ nhân Nguyễn Văn Đắc thì Quan họ hay vì nó có những nguyên tắc, lề luật  hát, phá đi những nguyên tắc đó hát quan họ trở thành dung tục, hỗn hào. Hát quan họ cổ là một thú chơi - chơi đẹp và sang, bởi thú chơi này rất kén bạn chơi.

Vào dịp mà làng nào có việc hội, cưới, lễ, hiếu thì lời mời nhau hát cũng đầy cách điệu và trang trọng. Và để chuẩn bị cho canh hát quan họ thi vị, chân thành và đáng nhớ, thì hai đương quan họ phải tập luyện chọn lựa rất kĩ lưỡng những người được cử đi hát ở làng bên. Người quan họ cổ không chấp nhận sự bỡn cợt, mua vui… Các lời khi hát đối đều phải thể hiện được sự hiểu biết, lễ độ, tôn kính, lịch sự với người hát đối. Việc hát đối giữa 2 đương quan họ làm nên sự gay cấn và hấp dẫn. Không có hát đối thì không thể “lời bật lời, ý bật ý” nên không thể thành quan họ…

Lề luật không cho người quan họ được yêu nhau, nhưng khi đã say tiếng hát các liền anh, liền chị lại quấn quýt với nhau, chẳng muốn chia tay, dùng dằng bịn rịn chẳng muốn về… họ hiến mình vào trong lời hát ý tứ, chứa chan, da diết. Chỉ khi ta lặng đi, ta thực sự nghe và cảm quan họ thì ta mới thấy những “í, ơi, mà, rằng…” đó là phần xương cốt, cho những ca từ kia được vang, rền, nền, nảy.

Cụ Đắc đã từng mê hát đến mức bỏ cả làm để đi hát, bố cấm, mẹ cấm ngồi cầm roi canh ở cổng, thì trèo tường, khoét lỗ để trốn đi hát. Cũng bởi cụ mê cái nghĩa, tình của người hát quan họ. Cái thời “nông nổi” của cụ đã qua đến vài chục năm, nhưng cụ vẫn không sao quên được những cái tên và giọng của những liền chị Hai Trắm, Tư Khuê, Ba Luật, Năm Nhân của đương quan họ Đào Sá năm nào.

Hội Lim hôm nay dần vắng bóng những canh hát quan họ cổ, mà muôn chuyện “ăn theo” lễ hội khiến nhiều người phải phiền lòng. Điều đó làm người yêu câu quan họ buồn, nhưng buồn hơn cả vẫn là tiếng hát quan họ đang ngày càng bị biến chất, bị thương mại hóa. Lán quan họ cũng có hòm công đức, dưới hồ, hát trên thuyền chị hai lại ngửa nón xin tiền. Liền anh liền chị cũng mặc cả, cũng đòi cát-xê chứ chả có chuyện hát chơi...

Giờ đây muốn nghe Quan họ cổ - lời cổ, không đệm nhạc cũng khó, nhưng không phải không có. Chúng ta vẫn có thể tìm thấy trong một vài đám cưới, đám hỏi, đám khánh thành nhà… nhưng chắc nhất là vào dịp đầu xuân trên các chùa. Khoảng mùng 5, mùng 6 Tết âm lịch, các cụ lại tụ họp đủ mặt anh tài trên chùa, ôn lại chuyện xưa tích cũ, hát đối đáp với nhau.

Những nghệ nhân quan họ giờ như “trái chín trên cây”, nếu không có những động thái tích cực và nhanh hơn nữa thì những tư liệu quý, những lời ca cổ được truyền miệng và ghi tạc ở trong đầu sẽ vĩnh viễn mất đi. Nếu những giá trị đích thực của Quan họ bị mất đi, mai một thì chúng ta sẽ chẳng còn Quan họ, sẽ chẳng còn gì để UNESCO công nhận “di sản văn hóa thế giới”.

Những người nông dân ở đây đang cố giữ gìn một di sản văn hóa cổ cho Kinh Bắc bằng niềm đam mê quan họ mãnh liệt của mình. Chắc rằng nỗ lực mỗi năm “trải chiếu” một vài lần ấy của họ không uổng phí. Càng về khuya, mưa càng nặng hạt, càng say câu hát, dùng dằng chia tay đã mười lần có lẻ rồi mà vẫn dùng dằng “Người ơi, người ở đừng về”.

Tôi cũng say theo câu hát. Giữa hai bờ mơ và thực tôi không nhớ được đang ở canh hát cách đây mười năm hay đang ở chốn nào…

Trần Dương

search