Thứ Bảy, 27/02/2010 - 07:24

Vẫn lúng túng trong việc quản lý lãi suất

Tại cuộc tọa đàm chuyên đề về lãi suất để xây dựng các phương án thích hợp điều chỉnh vấn đề này khi sửa đổi Bộ luật Dân sự 2005 do Bộ Tư pháp tổ chức mới đây, các chuyên gia vẫn còn có nhiều ý kiến khác nhau.

Việc quy định lãi suất cho vay không được vượt quá 150%
lãi suất cơ bản hiện nay đang cản trở hoạt động của các NHTM
 
Theo ông Dương Đăng Huệ - Vụ trưởng Vụ Pháp luật dân sự - kinh tế (Bộ Tư pháp), quy định về lãi suất trong Bộ luật Dân sự (BLDS) năm 2005, đặc biệt quy định về lãi suất trần cho vay dựa trên công cụ “lãi suất cơ bản” (LSCB) tại Điều 476 được coi là đã gây ra nhiều khó khăn, vướng mắc đối với việc huy động và cho vay vốn của các tổ chức tín dụng, làm tăng nguy cơ rủi ro về lãi suất và tín dụng, tạo ra tác động không thuận lợi trong việc ổn định thị trường tiền tệ.

5 phương án sửa đổi…

Bà Nguyễn Thị Thu Vân (Bộ Tư pháp, đại diện tổ biên tập) thì cho biết, Bộ Tư pháp đang dự kiến 5 phương án sửa đổi quy định này. Phương án 1 là giữ nguyên quy định của Điều 476, không cần can thiệp bằng việc ban hành quy định pháp luật mà chỉ cần Ngân hàng Nhà nước thực hiện quy định về việc công bố LSCB. Phương án 2 cũng giữ nguyên quy định hiện hành đồng thời Chính phủ ban hành Nghị định hướng dẫn Điều 476 theo hướng làm rõ cơ sở để tính “ngưỡng” của tội cho vay nặng lãi, định lượng rõ “gấp 10 lần mức lãi suất cao nhất mà pháp luật quy định” (Điều 163 Bộ luật Hình sự). Phương án 3, sửa Điều 476 theo hướng không dùng mức “150% LSCB” mà dùng mức “10 lần lãi suất tái chiết khấu” để chống lại việc cho vay nặng lãi. Phương án 4 sửa Điều 476 như sau: lãi suất vay do các bên thỏa thuận, nếu không thì áp dụng lãi suất bằng mức lãi suất trung bình của các ngân hàng thương mại tại thời điểm trả nợ. Phương án 5, lãi suất cũng do các bên thỏa thuận nhưng không được vượt quá 300% lãi suất trái phiếu kho bạc thấp nhất của lần phát hành cuối cùng trước thời điểm cho vay.

... Đều chưa được sự đồng thuận cao!

Lãi suất cho vay của các cá nhân và doanh nghiệp không phải là tổ chức tín dụng nên để các bên thỏa thuận, nhưng không vượt quá 150% lãi suất cho vay bình quân của các NHTM lớn trên địa bàn tại thời điểm cho vay

Trong số các phương án kể trên, 3 phương án đầu được bà Dương Thu Hương, Tổng thư ký Hiệp hội ngân hàng Việt Nam nhận xét là vẫn chưa thoát ra khỏi “vòng luẩn quẩn hiện tại”, mà mục tiêu chống cho vay nặng lãi cũng không đạt được. Phương án 4 có vẻ “can thiệp sâu” vào hoạt động của tổ chức tín dụng (lẽ ra nên để cho Luật về tổ chức tín dụng điều chỉnh). Còn phương án 5 chưa tốt ở chỗ lấy lãi suất trái phiếu kho bạc làm cơ sở, trong khi đây là lãi suất của khoản mà Chính phủ vay dân, vay doanh nghiệp - nói một cách khác, lãi suất này không đại diện cho lãi suất thị trường. Theo bà Hương, nên quy định theo hướng lãi suất cho vay của các cá nhân và doanh nghiệp không phải là tổ chức tín dụng do các bên thỏa thuận nhưng không được vượt quá 150% lãi suất cho vay bình quân của các Ngân hàng thương mại lớn trên địa bàn tại thời điểm cho vay, còn lãi suất cho vay, huy động của các tổ chức tín dụng thực hiện theo quy định của Luật Các tổ chức tín dụng.

Tuy nhiên, đại diện Ngân hàng Nhà nước, ông Đoàn Thái Sơn lại đề xuất phương án khác, theo đó mức lãi suất cho vay sẽ được quy định thẳng trong BLDS như một số nước đã làm, nhưng cụ thể là bao nhiêu phải nghiên cứu, có thể là không quá 20%. Phản biện lại ý kiến này, nhiều chuyên gia cho rằng, không thể “bắt chước” các nền kinh tế vốn đã rất ổn định, tỷ lệ lạm phát thấp.
 

Từ 15-3-2010, áp dụng quy định mới về phá sản đối với tổ chức tín dụng

Cũng giống các doanh nghiệp khác, thủ tục phá sản áp dụng đối với tổ chức tín dụng lâm vào tình trạng phá sản gồm 4 bước: Nộp đơn yêu cầu và mở thủ tục phá sản; phục hồi hoạt động kinh doanh; thanh lý tài sản, các khoản nợ và tuyên bố phá sản. Tòa án nhân dân cấp tỉnh là cơ quan có thẩm quyền tiến hành thủ tục phá sản đối với tổ chức tín dụng.

Điều kiện xác định tổ chức tín dụng lâm vào tình trạng phá sản là tổ chức tín dụng không có khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn khi chủ nợ có yêu cầu, sau khi Ngân hàng Nhà nước đã có văn bản không áp dụng hoặc chấm dứt áp dụng các biện pháp phục hồi khả năng thanh toán hoặc chấm dứt áp dụng kiểm soát đặc biệt thì được coi là lâm vào tình trạng phá sản.

Những người có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản gồm: Chủ nợ không có bảo đảm hoặc có bảo đảm một phần của tổ chức tín dụng; người lao động làm việc trong tổ chức tín dụng; chủ sở hữu của tổ chức tín dụng nhà nước, cổ đông của tổ chức tín dụng cổ phần. Ngoài ra, đại diện hợp pháp của tổ chức tín dụng có nghĩa vụ nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản khi nhận thấy tổ chức mình lâm vào tình trạng phá sản.

Trong thời hạn 5 ngày, kể từ ngày thụ lý đơn, Tòa án phải thông báo cho Ngân hàng Nhà nước biết. Tiếp đó, chậm nhất là 15 ngày, kể từ ngày nhận được thông báo của Tòa án, Ngân hàng Nhà nước phải có văn bản về việc có hoặc không áp dụng hoặc chấm dứt áp dụng biện pháp phục hồi khả năng thanh toán của tổ chức tín dụng hoặc chấm dứt áp dụng kiểm soát đặc biệt.

Tòa án ra quyết định mở thủ tục phá sản khi có đủ 2 điều kiện: Ngân hàng Nhà nước đã có văn bản về việc không áp dụng hoặc chấm dứt áp dụng biện pháp phục hồi khả năng thanh toán của tổ chức tín dụng và tổ chức tín dụng vẫn mất khả năng thanh toán nợ đến hạn. Đồng thời với việc ra quyết định mở thủ tục phá sản, Thẩm phán phụ trách việc phá sản ra quyết định thành lập Tổ quản lý, thanh lý tài sản để làm nhiệm vụ quản lý, thanh lý tài sản của tổ chức tín dụng lâm vào tình trạng phá sản.

Nghị định 05/2010/NĐ-CP với nội dung chính nêu trên có hiệu lực thi hành kể từ ngày 15 tháng 3 năm 2010.

Bình An
search