Nghệ thuật dân tộc được kết tinh từ mấy ngàn năm lịch sử dựng nước và giữ nước, vốn vô cùng phong phú, đa dạng và hấp dẫn. Vậy mà đã hình thành một quy luật bất thành văn, rằng mang hình ảnh Việt Nam đến với bạn bè năm châu thì vô cùng hữu hiệu, nhưng dùng nó để kinh doanh ư, còn xa!
Được đầu tư bài bản, vở diễn Làng tôi đã thu được thành công đáng kể
về mặt thương mại ở châu Âu
Quặng vàng chờ tinh luyện?
Cứ nhìn chú Tễu - nhân vật rối nước đã trở nên quen thuộc như một sứ giả nghệ thuật Việt với bạn bè năm châu thì biết. Bà Kiris Aropaltio - Giám đốc Nhà hát Hevosenkenk Phần Lan rất ấn tượng khi xem những tiết mục rối nước Việt Nam bởi sự kết hợp nhuần nhuyễn, uyển chuyển giữa những con rối với âm thanh, ánh sáng và mặt nước. Du khách nước ngoài tới Việt Nam đều coi thưởng thức nghệ thuật múa rối nước như một nhu cầu khám phá, tìm hiểu rõ hơn về bản sắc văn hóa độc đáo của Việt Nam. Nhà hát múa rối nước Thăng Long với rạp hát ven Hồ Gươm là điểm diễn luôn sáng đèn với hơn 900 buổi diễn múa rối nước phục vụ du khách hàng năm. Nhưng mang rối nước đi kiếm tiền ở nước ngoài ư, chưa thể!
Vở kịch dựa trên câu chuyện dân gian Nghêu sò ốc hến từng gây tiếng vang cả tháng trời tại Mỹ. “Tây” đua nhau tới Việt Nam học ca trù, say mê thưởng thức xẩm chợ, lúng liếng với những canh hát quan họ, tập chơi đàn T’rưng. Như đào nương tóc vàng người Thụy Điển Pia Quanstrom, nghệ sĩ đàn T’rưng người Nhật Oguri Komiko. Như liền anh quan họ Kerry Groves, hay tiến sĩ mê đắm đàn đáy, trống chầu Barley Norton... Tất cả những ví dụ trên cho thấy, “mỏ vàng” của ta có trữ lượng lớn tới cỡ nào. “Âm nhạc dân tộc luôn là món ăn lạ được chào đón nồng nhiệt nơi xứ người. Sức hấp dẫn của những buổi trình diễn nhạc cụ dân tộc Việt Nam với khán giả nước ngoài, nằm ở ba yếu tố: Âm thanh hay, nhạc cụ lạ, và người biểu diễn có trình độ khá cao. Sở hữu một trong những thế mạnh đó đã mừng, vậy mà chúng ta may mắn hội đủ cả ba”, NSƯT Bá Quế, người đã từng mang gần chục nhạc cụ Việt Nam độc đáo đến công chúng yêu nghệ thuật thuộc hơn năm chục quốc gia, chia sẻ.
Nhưng nghệ sĩ vẫn băn khoăn rằng: “Cho đến giờ phút này, dù tần suất biểu diễn tương đối lớn, diện phủ sóng khá rộng tới nhiều quốc gia, vùng lãnh thổ, nhưng hoạt động biểu diễn của chúng ta chủ yếu chỉ dừng lại ở mức độ giao lưu, trong các sự kiện ngoại giao hữu hảo. Âm nhạc dân tộc được tung hô nồng nhiệt như thế, nhưng để bán vé thu tiền, để vốn quý dân tộc mang lại lợi nhuận thì chưa”.
Khi được hỏi“Ra được đến bên ngoài, dường như mới chỉ có nghệ thuật truyền thống Việt Nam?”, nghệ sĩ xiếc Nhất Ly thẳng thắn: “Không hẳn thế. Tôi cho rằng trao đổi, hội nhập văn hóa có hai loại: chào mời và mua - bán. Văn hóa chào mời tức là tôi có món này, tôi mời anh đến nghe, xem, thưởng thức. Để tỏ lòng hiếu khách, anh không phải trả tiền. Những gì ngon nhất của tôi, nhân dịp thúc đẩy ngoại giao hay các dịp festival, tôi mời anh và tôi thấy ngon nhưng anh có thực sự thấy ngon, thấy thích thú không lại là chuyện khác. Cái này khác giao lưu văn hóa bằng nghệ thuật theo quy luật thị trường. Tôi chưa thấy ai nói đem văn hóa dân tộc ra bên ngoài và bán được vé, thu được lãi cả”.
Hiện tượng "làng tôi"
“Thật tuyệt vời, một chương trình hấp dẫn cả về hình thức lẫn nội dung. Chỉ với những đao cụ bằng tre mà các nghệ sĩ đã tái hiện được trọn vẹn cuộc sống đậm màu dân dã đầy quyến rũ của người dân nông thôn Việt Nam. Sau khi xem xong, gia đình tôi đã quyết định sẽ tới Việt Nam để tận mắt khám phá những làng quê tuyệt vời của các bạn”. Bà Marta Brigite, một khán giả Pháp đã chia sẻ như thế sau khi thưởng thức vở xiếc Làng tôi ngay tại Bảo tàng Quai Branly dưới chân tháp Eiffel.
Hơn chục đêm, công chúng Paris đầy chật khán phòng, diễn viên phải ra chào 5 - 7 lượt vẫn không thỏa mãn sự ngưỡng mộ của khán giả. Sau Pháp, Làng tôi đã có trong tay hợp đồng dài ba năm trời rong ruổi tại nhiều nước Châu Âu. Và dự tính sẽ còn tiếp tục công diễn ở những châu lục khác.
Làng tôi là một tác phẩm nghệ thuật tổng hợp, trong đó xiếc giữ vai trò chủ đạo, được dàn dựng để tập trung làm nổi bật bức tranh làng quê Việt Nam. Chính vì thế, cây tre được chọn làm “ngôn ngữ” để thể hiện tác phẩm. Cây tre mang hồn Việt. Và hồn Việt, qua Làng tôi, đã thuyết phục được cả những khán giả khó tính nhất. Làng tôi đã trở thành một hiện tượng của năm 2009. Cho dù nó đã được ra đời từ năm 2005, với nỗ lực rất đáng trân trọng của ba nghệ sĩ Việt kiều, và từng nhanh chóng chìm nghỉm trong dòng chảy của đời sống văn hóa Việt.
Nhất Lý - một trong ba Việt kiều đó từng tốt nghiệp cử nhân âm nhạc trường đại học Paris VIII, nguyên Chủ tịch Hội đoàn Arts - Ensembles và nay là Giám đốc Công ty Sân khấu Việt cho biết: Từ giữa năm 2005, ông đã đưa ra ý tưởng sử dụng phong cách dân gian vào vở diễn Làng tôi và tích cực kêu gọi các đối tác triển khai dự án tại Việt Nam. Cái đích đầu tiên của nhóm rất rõ ràng: Dàn dựng một chương trình đưa ra thị trường và bán được. Muốn bán được phải có sức thuyết phục, chương trình phải có chất lượng để người ta bỏ tiền mua chứ không phải để giao lưu. Phải có sự thành công về thương mại, đó mới là thành công thực về giao lưu văn hóa. Việc rất khó nhưng sẽ đem lại hiệu quả có thật. Sự chìm nghỉm của phiên bản đầu, theo lý giải của Nhất Lý: “Tôi không mạnh về bán hàng mà chỉ mạnh về nghệ thuật”. Thành công rực rỡ của phiên bản hai, công đầu thuộc về một đơn vị tổ chức biểu diễn uy tín và rất chuyên nghiệp - Hội đoàn Scène de la Terre (Sân khấu Địa cầu Pháp).
Lý do, cũng theo ông Lý: “Người phương Tây thấy tiềm năng của hướng đi này và họ đầu tư toàn bộ vốn. Đó là do mắt nhìn của họ. Điều duy nhất có thể làm được thì chúng tôi đã làm rồi, đó là có ý tưởng, biến thành hiện thực. Có sự hậu thuẫn của Sân khấu Địa cầu, người xem dễ dàng đặt lòng tin vào chất lượng của Làng tôi, bởi để được một tổ chức uy tín như Hội đoàn Scène de la Terre đứng ra đầu tư, tổ chức biểu diễn không hề đơn giản”.
Kết quả? Điều thứ nhất là nó giúp quảng bá văn hóa, khẳng định một hình thức xuất khẩu văn hóa. Với người nghệ sĩ, khi đồng hành với Làng tôi, họ kiếm được nhiều tiền. Với các diễn viên xiếc, họ có thu nhập sau một tháng bằng cả năm làm việc ở Việt Nam. Đó là động lực quan trọng nhất thúc đẩy người nghệ sĩ nỗ lực sáng tạo.
Thế nhưng, để có được sự thành công như Làng tôi thì không hề đơn giản. Theo nghệ sĩ Nhất Lý, “những nỗ lực nhằm sử dụng các chất liệu văn hóa truyền thống trong các chương trình nghệ thuật của Việt Nam chưa đủ sức thuyết phục”. Còn nghệ sĩ Bá Quế thì cho rằng: “Chúng ta chưa làm được có lẽ vì sự đầu tư chưa đủ độ. Thêm nữa, nghệ sĩ biểu diễn có trình độ cao, nhưng chúng ta chưa có được những ban nhóm, những đoàn nghệ thuật nổi tiếng thế giới”.
Đã đến lúc cả người làm công tác quản lý lẫn các nghệ sĩ sáng tác, biểu diễn đều phải làm quen dần với tư duy “coi nghệ thuật dân tộc phải là món hàng biết sinh lời” và đặt nó lên vị trí hàng đầu, để nói như NS Nhất Lý: “Bao giờ người nước ngoài đến với các loại hình nghệ thuật Việt Nam không phải vì tò mò, không phải để xem một lần, thì lúc đó những người làm nghệ thuật mới thực hiện được sứ mạng trao đổi văn hóa với đay đủ ý nghĩa của nó”.
Huyền Nga