Thứ Sáu, 05/03/2010 - 05:24

Vấn đề của tư duy

Năm nào cũng có vài quy hoạch phát triển ngành, cơ chế quản lý… của Việt Nam “được” nếu đích danh là thất bại, là thiếu thực tiễn… Chiến lược phát triển ngành công nghiệp ôtô Việt Nam đến năm 2010 và tầm nhìn đến năm 2020 (ban hành năm 2004), Quy hoạch phát triển ngành thép, phát phát triển công nghiệp điện tử, chương trình phát triển mía đường… đều là những ví dụ cụ thể của thực tế ấy.
Trong chiến lược phát triển ngành ô tô, việc đặt ra mục tiêu phải nội địa hóa được bao nhiêu “phần trăm” sản phẩm là không cần thiết

Dĩ nhiên, nguyên nhân thất bại, hay không phù hợp, thiếu thực tiễn của quy hoạch, cơ chế quản lý có nhiều, nhưng bao giờ cũng có nguyên nhân từ hình dung về cơ sở xây dựng và mong muốn của nhà hoạch định quy hoạch, chính sách… Chẳng hạn như với công nghiệp điện tử, công nghiệp ôtô của Việt Nam. Từ hơn 20 năm nay, việc sản xuất các sản phẩm điện tử, ôtô thông dụng trên thế giới đã không được thực hiện chỉ tại một quốc gia. Vô số quốc gia, hãng sản xuất, cung ứng, phân phối cùng tham gia việc chế tạo linh kiện, lắp ráp và phân phối một sản phẩm tới tay người tiêu dùng.

Cụ thể, một sản phẩm máy tính mang thương hiệu DELL, IBM, APLE… dù dán tem Made in USA nhưng linh kiện bên trong đa phần xuất xứ từ Trung Quốc, Đài Loan. Tương tự, ôtô Toyota xuất khẩu tới Mỹ cũng không sản xuất 100% tại Nhật Bản. Khái niệm chuyên nghiệp hóa cao độ trong sản xuất sản phẩm tiêu dùng hiện nay không hiểu theo nghĩa là chỉ sản xuất từ nguyên liệu thô tới thành phẩm cuối cùng tại một nhà máy, một quốc gia mà được hiểu theo nghĩa sản xuất với thiết kế, tiêu chuẩn linh kiện, tiêu chuẩn sản phẩm của một hãng đặt hàng nhất định và được bán với thương hiệu của hãng đó. Nói cách khác, một sản phẩm được thành hình không phụ thuộc vào một nhà sản xuất, mà phụ thuộc vào chuỗi cung ứng linh kiện của nhà sản xuất ấy.

Từ đây sẽ thấy, việc đặt mục tiêu và áp đặt mục tiêu phải nội địa hóa được bao nhiêu “phần trăm” sản phẩm của một ngành sản xuất sau thời gian nhất định thực ra là không cần thiết. Và cũng không phục vụ cho mục tiêu chiến lược: hội nhập kinh tế quốc tế mà Việt Nam đang hướng tới. Vấn đề phải là xác định những sản phẩm chiến lược có thể tham gia thành công vào việc chế tạo, lắp ráp sản phẩm hoàn chỉnh của các nhà sản xuất trên thế giới. Hay là tham gia thành công vào chuỗi cung ứng linh kiện, cung ứng sản phẩm. Trung Quốc, Singapore… không là những quốc gia có những thương hiệu toàn cầu như Mỹ. Nhưng đây là những nơi sản xuất linh kiện nhiều nhất cung ứng cho các thương hiệu toàn cầu của Mỹ. Ngược lại, tình hình của Việt Nam là nhập khẩu nhiều nhất, dù mục tiêu tự sản xuất bao giờ cũng rất… hoành tráng. Đúng hơn, là Việt Nam lại đang trong quá trình học hỏi kinh nghiệm phát triển công nghiệp theo định hướng hình thành chuỗi cung ứng, lắp ráp, chế tạo của các nước, nhưng để phục vụ mục đích “nội địa hóa” tự đặt ra. Đó có là mâu thuẫn ?

Thực ra, khi đầu tư, điều nhà đầu tư quan tâm nhất là hiệu quả kinh tế của dự án. Ngắn gọn hơn là khả năng sinh lãi của dự án ấy. Và nhiệm vụ của các nhà quản lý là ban hành các cơ chế, chính sách để nhà đầu tư nhìn thấy khả năng sinh lãi khi bỏ tiền vào ngành sản xuất được khuyến khích ấy. Với trường hợp ngành sản xuất ôtô của Việt Nam vốn “sinh sau đẻ muộn” so với các  quốc gia khác, thì việc đặt mục tiêu phải nội địa hóa được bao nhiêu “phần trăm” sản phẩm ôtô sản xuất trong nước chẳng khác gì yêu cầu các nhà sản xuất phải đảo lộn quy trình sản xuất của mình. Do thế, sự thất bại của chiến lược nội địa hóa sản phẩm ôtô sản xuất trong nước là điều có thể nhìn thấy từ trước. Kết quả tương tự này cũng đã xảy ra với công nghiệp điện tử, thép…

Việt Nam sẽ phát triển công nghiệp để nội địa hóa các sản phẩm tiêu dùng trong nước ? Hay Việt Nam sẽ phát triển công nghiệp theo hướng tham gia chuỗi cung ứng, sản xuất các sản phẩm toàn cầu ? Trả lời câu hỏi ấy, hóa ra lại liên quan tới định hướng tư duy của các nhà quản lý. Rằng, tư duy ấy hướng tới mục tiêu… to, hay chỉ cần sinh lãi nhiều hơn.
 
Quốc Dũng
search