Dù chưa ai ước tính được tổng giá trị của thị trường phục vụ bếp núc ở Nhật, nhưng chắc chắn đó là một con số cực lớn.

Nồi cơm điệm là sản phẩm được thường xuyên cải tiến, nâng cao chất lượng
Là người có... tâm hồn ăn uống, ấn tượng sâu sắc của tôi lần đầu tiên đặt chân lên xứ sở Mặt Trời mọc chính là những đĩa thức ăn, những tô mì... trông y như thật nằm trong tủ kính của các hiệu ăn. Tô mì có vẻ như còn đang bốc khói, cốc bia sủi bọt như vừa được rót vào cốc chỉ một phút trước đó và đĩa tempura với lớp bột vàng rộm hứa hẹn sẽ giòn tan giữa hai hàm răng. Chỉ khi bước vào quán, tôi mới vỡ lẽ, đó là những mô hình được làm tuyệt khéo để giúp những thực khách dễ dàng lựa chọn món khoái khẩu, kể cả những người có vốn tiếng Nhật làng nhàng hay những kẻ “kén cá chọn canh”, ăn uống gẩy gót. Những mẫu đồ ăn như thật đó là một ví dụ về hàng chục ngàn sản phẩm của thị - trường - phục - vụ - bếp - núc vô cùng to lớn ở Nhật. Dù chưa ai ước tính được tổng giá trị của thị trường này, chắc chắn đó là một con số cực lớn.
Từ miếng sushi bằng… sáp
Rồi sau đó tôi biết thêm rằng, Tokyo Biken là công ty chuyên... gây thèm ăn bởi hàng chục ngàn mẫu mã sản phẩm mô phỏng món ăn như vậy. Những âm thanh điện tử vui nhộn cứ thánh thót vang lên trong cửa hàng trưng bày sản phẩm của công ty ở chợ đồ bếp khổng lồ Asakusa Kappabashi ở Tokyo: “Đây là món ăn thật sao? - Ồ, sao mà trông chúng ngon đến thế chứ”!
Theo nhà sản xuất, ban đầu, “nguyên liệu” của những món ăn này là sáp ong. Dần dà, các chuyên gia của hãng phát hiện ra rằng, nhựa tổng hợp sẽ giúp hạn chế tối đa tình trạng co ngót và biến dạng của “món ăn”. Với các loại mẫu “đồ uống” như bia chẳng hạn - vốn được làm từ silicon - nay được thay thế bằng gelatin, tạo cảm giác “sóng sánh” hơn. Các loại sơn nước nhường chỗ cho chất nhuộm gốc dầu bền màu hơn. Để đáp ứng nhu cầu “làm mẫu” thì các sản phẩm hiện nay của Biken gần như đã mãn nhãn, nhưng nhà sản xuất không định dừng ở đó. Họ còn tham vọng tạo ra những món ăn có hương vị để khiêu khích những cái dạ dày đang đói của thực khách hơn nữa.
Còn với tư cách một bà nội trợ, sẽ là vô cùng thiếu sót nếu bạn không dạo qua hàng dao – những con dao được tôi luyện từ thứ thép làm nên danh tiếng các samurai. Ở một cửa hiệu mang tên Tsuba-ya, với tấm biển hiệu được tạo hình con dao bếp, gần 1.000 con dao đủ cỡ được dựng kín tất cả các bức tường, hầu hết là dao thửa. Ba tay thợ lành nghề của cửa hàng này luôn làm việc với công suất tối đa! Ai cũng biết nghệ thuật ẩm thực Nhật Bản đòi hỏi sự cầu kỳ, tinh tế, vậy mà ông Saito Hiroshi, chủ hiệu, tự hào có thể chế tác ra bất kỳ loại dao nào phục vụ những mục đích đặc biệt như lạng mỏng cá cho món sashimi, cạy sò hoặc rút xương lươn... Ông hóm hỉnh: “Chúng tôi muốn mọi khách hàng của mình - dù là chuyên gia ẩm thực hay người nội trợ ít kinh nghiệm, còn chưa biết cách mài dao - đều được hài lòng với những đường cắt luôn sắc ngọt và thông minh”. Dĩ nhiên là không chỉ có dao. “Chợ” đồ bếp Asakusa Kappabashi với những cửa hàng san sát nhau kéo dài khoảng một cây số có không thiếu một thứ gì mà các bà nội trợ ao ước: từ bát đĩa, ly tách đủ loại, khuôn bánh với hàng nghìn hình thù cho tới những vật dụng “đặc Nhật” như tấm mành mành để cuốn sushi hay hàng chục thứ đồ tỷ mẩn dành riêng phục vụ nghi thức trà đạo.
Đến hành trình hoàn thiện của chiếc nồi cơm điện
Thật khó tưởng tượng được nền ẩm thực của Nhật Bản, Việt Nam và rất nhiều nước Á Phi khác nếu thiếu vắng bát cơm thơm dẻo, trắng ngần. Sự xuất hiện của chiếc nồi cơm điện có thể coi như một cuộc cách mạng về bếp núc để góp phần tạo ra hàng tỷ bát cơm ngon mỗi năm cho khoảng một nửa nhân loại. Chiếc nồi cơm điện đầu tiên đã ra đời trên thị trường Nhật Bản vào năm 1955. Từ đó đến nay, hãng điện tử Panasonic (tiền thân là Matsushita Electric) đã không ngừng tìm tòi, cải tiến nó để hạt cơm thơm dẻo, ngọt ngào hơn bao giờ hết. Takanuma Tomoka - nhân viên bộ phận phát triển sản phẩm nồi cơm điện của công ty này cho biết, khoảng 6 triệu chiếc nồi cơm điện được tiêu thụ trên thị trường Nhật Bản mỗi năm. Sản phẩm này chiếm vị trí thứ 3 trên thị trường điện tử gia dụng Nhật, chỉ sau có ti vi (10 triệu chiếc) và điều hòa (khoảng 7 triệu chiếc).
|
6 triệu nồi cơm điện được tiêu thụ tại thị trường Nhật mỗi năm |
Trước thời điểm 1955, cơm được nấu theo cách truyền thống đòi hỏi người nội trợ phải luôn luôn canh chừng để điều chỉnh ngọn lửa sao cho phù hợp. Các nhà sản xuất đã tự động hóa quy trình này. Vào năm 1960, loại nồi cơm điện “mới” cho phép người nội trợ đặt thời gian nấu và tự động chuyển sang chế độ ủ ấm khi cơm đã chín. Đó là một bước tiến lớn, đến nỗi các bà nội trợ xem như đã thỏa lòng mong ước và không ai là không muốn tậu lấy cho mình một chiếc. Năm 1979, công nghệ điện tử điều khiển tiến xa hơn, mỗi chiếc nồi cơm điện có thêm một bộ vi xử lý nhỏ. Nó giúp điều chỉnh nhiệt độ tự động và chính xác, biến chiếc nồi cơm điện từ một thiết bị chỉ đun sôi và giữ hơi cho gạo chín trở thành một thiết bị làm cho cơm ngon lành hơn. Tiếp đến, năm 1988, chiếc nồi cơm điện được hoàn thiện thêm bước nữa. Nhờ nắp nồi hoạt động như một mâm nhiệt dựa trên hiện tượng cảm ứng điện từ (nắp nồi này có thể tháo rời ra được), nước và gạo bên trong nồi không những được làm nóng từ đáy và thành nồi, mà còn cả bởi nắp nồi. Do vậy, cơm sẽ chín đều, mềm và có vị ngọt hơn.
“Bí quyết của nồi cơm ngon nằm ở 3 điểm: chất lượng gạo, lượng nước và nhiệt độ nấu. Tuy không thể tác động đến hai yếu tố trên, nhưng yếu tố thứ 3 là điểm mà Panasonic luôn tìm tòi, cải tiến” - chị Tomoka giải thích. Chị “bật mí” thêm, ở Panasonic còn có một đội ngũ chuyên gia ẩm thực nghiên cứu về mùi vị, độ ngon của cơm nấu từ những thế hệ nồi điện khác nhau. Chính họ xác nhận việc ứng dụng công nghệ mới đã thực sự làm tăng độ ngon ngọt của cơm.
Cuộc cách mạng vẫn không dừng lại tại đó mà tiếp tục với nhiều cải tiến khác về thiết bị phụ trợ gia tăng nhiệt độ cùng với việc tăng cường sự luân chuyển hơi nước nóng bên trong nồi. Ở chiếc nồi cơm model SR-SJ1 2009 của Panasonic - chiếc nồi trong được cấu tạo 6 lớp, lớp trong cùng được tráng diamon fluorine, cách nhiệt cực tốt, giúp nhiệt độ trong nồi đạt đến mức rất cao. Bản thân chiếc vung nồi cũng được cấu tạo để trở thành một mâm nhiệt khiến cho toàn bộ gạo và nước trong nồi được đun nóng hoàn toàn và đồng nhất. Hơi nước bốc lên khi cơm sôi được gom lại, đun nóng đến 130 độ C rồi hấp thụ trở lại cơm, giúp cơm chín đủ nước và không bị khô. Hệ thống quạt “tí xíu” lắp đặt trên phần vung nồi giúp thổi hơi nước nóng trở lại bề mặt cơm trong nồi.
Tất nhiên - biết đâu đấy - trong tương lai, nấu cơm bằng nồi cơm điện sẽ trở thành “nấu cơm theo lối truyền thống”. Bởi lẽ các nhà khoa học Ấn Độ hiện đã cho ra đời loại gạo không cần nấu bằng nhiệt. Tuy nhiên, từ giờ cho đến lúc loại gạo ấy trở nên phổ biến trong hàng tỷ bữa cơm gia đình, người ta chắc chắn sẽ tiếp tục được chứng kiến nhiều thế hệ nồi cơm điện “con hơn cha, cháu hơn ông”.
Anh Phương