Thứ Hai, 08/03/2010 - 09:13

Hỗ trợ doanh nghiệp: Chính sách vĩ mô đóng vai trò quyết định

“Kế hoạch trong năm 2010 chúng ta đặt ra là tăng trưởng 6,5%, trong khi đó dự đoán thâm hụt thương mại lại không giảm mà đang có xu thế tăng lên, điều này khiến cho GDP có thể âm khoảng 1%. Nói cách khác nếu chúng ta muốn có tốc độ GDP 6,5% thì tốc độ tăng trưởng thực nội địa phải đạt 7,5%" - đó là nhận định của ông Lê Xuân Nghĩa, Phó Chủ tịch UB Giám sát Tài chính quốc gia.

"Cứu" doanh nghiệp bằng cải cách hành chính

Chính sách kinh tế vĩ mô hỗ trợ doanh nghiệp mạnh mẽ tới mức nào để có thể đạt được 6,5%? Ở đây không chỉ đơn giản từ 5,3% lên 6,5% mà phải từ 4% lên tới 7,5%. Cho nên chính sách vĩ mô có một vai trò rất lớn để làm sao hỗ trợ các doanh nghiệp đạt được mức tăng trưởng 6,5% như chúng ta kỳ vọng. Để làm được điều này, việc đầu tiên là phải cải thiện môi trường kinh doanh, đặc biệt là thủ tục hành chính, đây là điều mà các doanh nghiệp rất quan tâm. Song song với nó phải có chính sách nới lỏng tiền tệ, nếu Chính phủ tiếp tục áp dụng chính sách thắt chặt tiền tệ như 6 tháng vừa qua thì đầu tư của khối doanh nghiệp tư nhân sẽ giảm, và trên thực tế đang có xu thế giảm. Như thế, mục tiêu 7,5% tăng trưởng thực là hết sức khó khăn.
Để GDP năm 2010 đạt 6,5%, việc đầu tiên là phải cải thiện môi trường kinh doanh, đặc biệt là thủ tục hành chính, song song với nó phải có chính sách nới lỏng tiền tệ...

Tại sao Trung Quốc có thể tăng trưởng tới 12%? Thậm chí có những năm lên tới 14%? Thái Lan có những năm tăng trưởng tới 11%, trong khi Việt Nam “lẹt đẹt” không lên nổi 9%. Ông Nghĩa cho rằng, nguyên nhân chính là số lượng các DNVVN Việt Nam được tiếp cận vốn ngân hàng còn quá ít so với các nước. Theo khảo sát của Bộ Kế hoạch Đầu tư công bố cách đây 2 năm, vào lúc thịnh vượng nhất mới chỉ có 35% DNVVN tiếp cận được vốn ngân hàng, còn lại 65% không thể tiếp cận được.

“Theo tôi, trong 2 năm gần đây con số 35% đã bị thu hẹp đi rất nhiều, vì tôi làm trong ngành ngân hàng nên tôi hiểu, ngân hàng nào không dám thu phụ phí vượt quy định của ngân hàng Trung ương thì họ quyết định không cho vay, không thu được phụ phí cũng không cho vay. Do đó, hầu hết các ngân hàng chỉ chọn những doanh nghiệp có độ rủi ro thấp để cho vay. Phần vốn còn lại các ngân hàng “vác” đi cho vay trên thị trường liên ngân hàng để “chắc ăn”, như vậy đã bỏ không cả một lĩnh vực đặc biệt là khu vực DNVVN”, ông Nghĩa nói.

Với cách thức điều hành như vậy đã khiến  không ít doanh nghiệp khốn đốn vì phải đi vay ngoài thị trường chợ đen không chỉ để đảo nợ mà còn để duy trì sản xuất bình thường, trong đó có cả làm hàng xuất khẩu.

Nên đặt quản lý giá làm trọng tâm

Trong 2 tháng đầu năm 2010, chỉ số lạm phát là 3,35%, đặc biệt trong tháng 2 tương đối cao. Thực tế, tác động từ bên ngoài vào là không lớn, thậm chí rất ít vì phần lớn các nước chúng ta nhập khẩu đang bị thiểu phát; tác động chính sách tiền tệ cũng không thật sự lớn, nó không thể tác động ngay đến nền kinh tế. Nhưng trong tháng Tết vừa qua bị tác động rất mạnh do cách quản lý giá của chúng ta còn kém. Những thành phố quản lý tốt và chủ động như TP. HCM thì chỉ số giá rất thấp, chỉ khoảng 1,6%; còn những tỉnh thành quản lý yếu khiến cho khu vực dịch vụ, giải trí, vận chuyển lợi dụng việc tăng giá điện, xăng dầu đẩy giá vô tội vạ làm chỉ số giá tăng lên cao.

Khi tỉ số giá tăng mà chúng ta lại siết chặt tiền tệ một lần nữa thì sẽ khiến cho các doanh nghiệp lao đao. Do đó, năm 2010 quản lý giá phải đặt làm trọng tâm. Theo tính toán của ông Nghĩa, giá xăng chỉ làm tăng CPI cả năm chỉ có 0,25%; giá điện 0,4%, nhưng tỉ giá nếu cả năm điều chỉnh 10% thì nó có thể tác động vào CPI từ 1% đến 1,35%, nếu cộng 3 yếu tố này thì rất có thể làm tăng CPI thêm 1,45% đến 1,77%. Ông Lê Xuân Nghĩa đưa ra viễn cảnh: “Sẽ có rất nhiều lễ hội trong năm nay, trong khi đó ở nhiều nơi lại tùy tiện nâng giá phục vụ một cách bừa bãi, nhất là sắp tới chúng ta sẽ kỷ niệm 1000 năm Thăng Long, tỉnh nào cũng tổ chức, nếu thiếu kiểm soát để khu vực dịch vụ đẩy giá lên thì chúng ta có thể sẽ phải ghánh chịu hậu quả CPI lên trên 10%, trong trường hợp chúng ta quản lý giá tốt thì có thể dưới 9%. Lúc đó tâm lý lạm phát sẽ rất nặng nề, tỉ giá hối đoái sẽ khó xử lý hơn, chính sách tiền tệ lúc này thực sự gây khó khăn rất nhiều đối với các doanh nghiệp” .

Vấn đề lãi suất hiện nay cũng đang được các doanh nghiệp quan tâm. Theo ý kiến của một số chuyên gia, hiện nay lãi suất thực tương đối cao vì lạm phát năm 2009 rất thấp, nhưng thực tế không phải như vậy, công thức để tính lãi suất bao giờ cũng phải là kỳ vọng của tương lai chứ không thể của quá khứ, nếu lạm phát cao thì lãi suất kỳ vọng cũng sẽ cao. Do đó chúng ta nên cẩn trọng trong vấn đề này. “Lãi suất có thể tăng khi chúng ta tự do hoá, nhưng sau đó sẽ giảm và ổn định dần, lãi suất chỉ đạo của Ngân hàng Nhà nước về cơ bản có thể giữ được ổn định trong cả năm 2010”, ông Nghĩa nhận định.

Tính thanh khoản của ngân hàng trong thời gian vừa qua đã được cải thiện tương đối tốt, lãi suất thị trường liên ngân hàng đã giảm xuống rất thấp (dưới 10%). Nhưng thanh khoản của doanh nghiệp thì vẫn còn khó khăn lớn, lý do chính là trần lãi suất thấp mà nguồn thì lại thiếu, dù vốn khả dụng đã tăng lên từ 15 ngàn tỉ đồng trước Tết lên 30 ngàn tỉ đồng sau Tết. Để khắc phục tình trạng này, ông Nghĩa đề xuất, về mặt chiến lược, chỉ có cách là tự do hoá lãi suất, làm cho lãi suất trở thành lãi suất thị trường thì khi đó huy động vốn sẽ dễ dàng hơn.

 Hồ Hường

search