Thắng lợi của Cách mạng tháng Tám năm 1945 do Đảng Cộng sản Đông Dương, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo đã làm nên một kỳ tích vượt ra khỏi không gian nước Việt, có sức cổ vũ các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới đứng lên chống ách đô hộ thực dân cũ và mới. Thắng lợi của Cách mạng tháng Tám năm 1945 là thắng lợi của chính sách đại đoàn kết dân tộc của Mặt trận Việt Minh và sức cảm hoá vĩ đại của Hồ Chủ tịch.
“Sức cảm hoá của Hồ Chủ tịch thật là vĩ đại” là nhận xét của ông Phạm Khắc Hoè - nguyên Đổng lý văn phòng triều đình nhà Nguyễn lúc bấy giờ. Với tư cách là Đổng lý văn phòng của vua Bảo Đại, Phạm Khắc Hoè đã góp phần quan trọng vận động vị vua cuối cùng của nhà Nguyễn thoái vị. Không khí cách mạng như triều dâng thác đổ ngày ấy ông vẫn nhớ như in sau bao nhiêu năm, được ghi lại trong cuốn hồi ký “Từ triều đình Huế đến chiến khu Việt Bắc”: “Sáng ngày 20 tháng 8, sau khi ra phố xem và biết những lời đồn đại về một bức thư, thì chắc chắn của nhà cách mạng Nguyễn Ái Quốc mới được dán lên ở nhiều nơi công cộng, tôi liền báo việc ấy với Bảo Đại và nói thêm: Theo lời của bức thư thì chắc chắn nhà cách mạng nổi tiếng là người cầm đầu Việt Minh”. Rồi tôi vừa hỏi vừa gợi ý xem Bảo Đại có hiểu biết gì về Nguyễn Ái Quốc không...
- Thế là ông muốn khuyên trẫm thoái vị, nhường tất cả quyền bính cho Việt Minh phải không?
- Tâu, đúng như vậy.
- Nếu quả người cầm đầu Việt Minh là Thánh Nguyễn Ái Quốc thì tôi sẵn sàng thoái vị ngay...
Tôi chắp tay cúi đầu vái nhà vua một cái rồi quay lui ra với một niềm vui sướng không sao tả hết... Khi được nhà vua hứa sẵn sàng thoái vị thì cả niềm vui của tôi lắng xuống trong tim, trong óc thành một luồng suy nghĩ tập trung, nó đã đưa tôi đến thảo được một bản Chiếu thoái vị chứa đựng tất cả tình cảm, nguyện vọng, hoài bão của tôi đối với thời cuộc lúc đó. Công việc say sưa thích thú này bắt đầu từ chiều 20/8 được hoàn thành trong đêm đó. Trong hai ngày, 21 và 22/8, với bản thảo Chiếu thoái vị trong túi tôi hoà vào dòng người đi tìm anh Tôn Quang Phiệt...”
Cũng như nhiều người dân Nghệ Tĩnh những năm đầu thế kỷ XX, Phạm Khắc Hoè biết đến câu sấm tương truyền của Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm thời bấy giờ: “Đụn Sơn phân giải, Bò Đái thất thanh, Nam Đàn sinh thánh”. Để thuyết phục Bảo Đại, Phạm Khắc Hoè giải thích nội dung câu sấm và nhấn mạnh rằng “Nam Đàn sinh thánh”- Vị Thánh ấy là Nguyễn Ái Quốc đang cầm đầu Việt Minh!
Sau khi thoái vị, vua Bảo Đại tự nguyện “làm dân của một nước độc lập” lại được Hồ Chủ tịch mời ra làm Cố vấn tối cao cho chính quyền cách mạng. Điều này ngoài sức tưởng tượng của Đổng lý văn phòng Phạm Khắc Hoè: “Tôi đọc đi đọc lại hai ba lần mà vẫn có cảm giác như mình đang nằm mơ, vì liên tưởng đến số phận bị đát của vua Lu-y XVI trong Cách mạng Pháp và của vua Nhi-cô-lai II trong Cách mạng tháng Mười Nga”. Ông cùng Bảo Đại ra Hà Nội gặp Hồ Chủ tịch. Ông đi từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác về Thánh Nguyễn Ái Quốc, nhất là sau khi chứng kiến cuộc gặp giữa Hồ Chủ tịch và Bảo Đại, ông đã phải thốt lên: “Sức cảm hoá của Chủ tịch Hồ Chí Minh thật là vĩ đại! Một ông vua bị cách mạng lật đổ mà không đầy một tháng sau đã viết thư khoe với mẹ là được người lãnh đạo cách mạng ấy “thương như con”. Chỉ có lòng nhân ái bao la “rộng hơn biển cả” của Hồ Chủ tịch mới có sức cảm hoá kỳ diệu như vậy”.
Những hoạt động yêu nước của Nguyễn Ái Quốc đầu thế kỷ XX, trên đất nước Pháp, làm chấn động dư luận, ảnh hưởng rất lớn đối với cộng đồng Việt kiều yêu nước. Sau Cách mạng tháng Tám, năm 1946 với tư cách là khách mời của Chính phủ Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh đến thăm Pháp, uy tín và sức cảm hoá của Hồ Chủ tịch càng lớn hơn. Đó là lý do vì sao khi Bác rời Paris nhiều trí thức lớn như Trần Đại Nghĩa, Trần Hữu Tước,... theo Người về nước tham gia đóng góp tài năng của mình phục vụ đất nước. Uy tín lớn của Hồ Chủ tịch cảm hoá giới trí thức và quan lại phong kiến nên phần lớn trí thức trong chính phủ Trần Trọng Kim cũng như quan lại Nam triều đi theo cách mạng tham gia phục vụ kháng chiến và kiến quốc. Chứng kiến giờ phút thiêng liêng Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn độc lập ngày 2 tháng 9 năm 1945 trên quảng trường Ba Đình lịch sử, Giáo sư Đỗ Xuân Hợp, giảng viên Trường Đại học Y khoa Đông Dương, người Việt Nam đầu tiên cũng là người thứ mười trên thế giới được nhận giải thưởng y học danh giá Tes Tut của Viện hàn lâm y học Pháp, ý thức sâu sắc con đường đi của mình: “Vị Chủ tịch nước đứng trên lễ đài. Tôi ngước nhìn và xúc động nghe Người nói: Tôi nói đồng bào nghe rõ không? Ôi! Sao vị cứu tinh của Dân tộc lại nói một câu mộc mạc, đầy tình nghĩa như thế. Nguyễn Ái Quốc vị lãnh tụ cách mạng mà chúng tôi từng nghe kể, chính là Bác Hồ Chí Minh kia rồi. Tôi ngắm nhìn Bác: Bác gầy, da xanh nhưng đôi mắt rất sáng, vầng trán cao rộng. Nghe lời Bác nói, tôi cảm thấy như Bác gần gũi chúng tôi. Đêm ấy tôi không sao ngủ được. Có cách mạng, có Bác, trí thức chúng tôi có đường đi...”. Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh với chính sách đại đoàn kết dân tộc đã tập hợp mọi tầng lớp nhân dân, đưa đường chỉ lối cho dân tộc ta vượt qua mọi khó khăn gian khổ, hi sinh đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác trong cuộc trường kỳ kháng chiến ba mươi năm ròng rã chống lại sự xâm lược của các thế lực đế quốc giàu mạnh để giành lại độc lập tự do.
Trong đội ngũ trùng điệp của dân tộc có đội ngũ doanh nhân Việt Nam. Dù là những người giàu có, làm chủ xí nghiệp, hầm mỏ hay chủ những hiệu buôn bán lớn... nhưng trong xã hội thực dân phong kiến họ cùng chung số phận của những người dân nô lệ. Chính sách của Chính phủ lâm thời, tạo mọi điều kiện cho doanh nhân VN đem hết sức mình tham gia xây dựng đất nước và kháng chiến bằng việc khuyến khích sản xuất kinh doanh làm giàu chính đáng đem lại niềm tin cho doanh nhân. Sức cảm hoá của Hồ Chủ tịch đối với doanh nhân là tầm nhìn xa trông rộng thấy rõ sức mạnh của các nhà tư sản dân tộc, tạo điều kiện cho họ phát triển các cơ sở sản xuất kinh doanh. Sức cảm hoá của Hồ Chủ tịch còn là niềm tin vào lòng yêu nước của mọi tầng lớp nhân dân là sự bình dị thanh cao trong con người Bác. Từ chiến khu cách mạng về Hà Nội, Người sống và làm việc tại ngôi nhà số 48 hàng Ngang của gia đình ông bà Trịnh Văn Bô - một trong những nhà giàu có nhất lúc bấy giờ. Từ ngôi nhà này Người đã viết bản Tuyên ngôn độc lập khai sinh nước Việt Nam dân chủ cộng hoà - nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á. Nửa tháng sau ngày độc Tuyên ngôn độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có cuộc gặp gỡ thân mật với ba mươi nhà công thương Hà Nội. Thư gửi giới công thương Việt Nam ngày 13 tháng 10 năm 1945 của Chủ tịch Hồ Chí Minh là niềm tin của Người và Chính phủ đối với doanh nhân: “Việc nước và việc nhà bao giờ cũng đi đôi với nhau. Nền kinh tế quốc dân thịnh vượng nghĩa là các sự kinh doanh của các nhà công nghiệp, thương nghiệp thịnh vượng. Vậy tôi mong giới công thương nỗ lực và khuyên các nhà công nghiệp, thương nghiệp mau mau gia nhập “Công thương cứu quốc đoàn” cùng đem vốn vào làm những công việc ích quốc lợi dân”.
Là người đứng đầu Chính phủ cách mạng nhưng Chủ tịch Hồ Chí Minh sinh hoạt giản dị, không đòi hỏi sự ưu ái riêng cho mình. Cái cảm giác lần đầu tiên gặp Bác, bà Hoàng Thị Minh Hồ không bao giờ quên: “Chúng tôi thât ngạc nhiên và cảm kích khi thấy một vị lãnh đạo cao cấp của cách mạng lại giản dị, gần gũi như vậy...”. Chính phủ và Hồ Chủ tịch có sức cảm hoá lớn, cho nên trong lúc cách mạng mới thành công, ngân khố chỉ còn vẻn vẹn 1 triệu 20 vạn đồng Đông Dương, nhờ cuộc vận động “Tuần lễ vàng” từ ngày 17 đến ngày 24 tháng 9 năm 1945 mà giới công thương và toàn dân đã góp cho Chính phủ 370 kg vàng và hơn 1 triệu đồng Đông Dương để kiến thiết quốc gia và chuẩn bị cho toàn quốc kháng chiến...
Không phải bây giờ, mà cách đây gần một thế kỷ, năm 1923, nhà thơ Liên Xô - Ôxíp Manđentam đã viết những dòng sau đây: “Cả diện mạo Nguyễn Ai Quốc đã toát lên sự lịch thiệp và tế nhị. Từ Nguyễn Ái Quốc toả ra một nền văn hoá, không như văn hoá Châu Âu, mà có lẽ là nền văn hoá tương lai... Qua cử chỉ cao thượng và tiếng nói trầm lắng của Nguyễn Ái Quốc, tôi thấy một ngày mai, thấy được viễn cảnh trời yên biển lặng của tình hữu ái toàn thế giới bao la như đại dương...”.
Đại tá Nguyễn Trọng Thông - Chủ tịch HĐQT Tập đoàn Hà Đô, Bộ Quốc phòng: Gắn lý luận với thực tiễn
Một trong những di sản lý luận ma Hồ Chí Minh để lại cho chúng ta là tư tưởng về sư thống nhất giữa lý luận va thực tiễn như một biện pháp cơ bản nhằm ngăn ngừa, khắc phục bệnh kinh nghiệm va bệnh giáo điều. Theo tư tưởng ấy, doanh nhân cần phải luôn phấn đấu, học hỏi, rèn luyện, kết hợp giữa kiến thức sách vở và nhu cầu thực tiễn để tích luỹ, xây dựng văn hoá DN của mình. Với tôi, điều quan trọng nhất của xây dựng văn hoá là mọi hoạt động phải đúng quy luật phát triển. Vì vậy, cần phải tìm được quy luật va vận dụng quy luật ấy vào hoạt động thực tiễn cho phu hợp. Đây là công việc không đơn giản, bởi văn hoá DN gắn liền với thương hiệu, chất lượng sản phẩm, sự phục vụ khách hàng trong mối quan hệ hữu cơ, ràng buộc, thúc đẩy lẫn nhau. Học tập và làm theo gương đạo đức Hồ Chí Minh chính là xây dựng nền tảng đạo đức, nền tảng văn hoá, tinh thần của xã hội, là trách nhiệm của mỗi người dân VN nói chung và doanh nhân VN nói riêng. Đội ngũ doanh nhân luôn là người đứng đầu DN. Điều đó có nghĩa là doanh nhân luôn ý thức rằng mình đang làm vì mục tiêu, lợi ích chung cho DN, xã hội. Vì vậy, trong tiềm thức của các doanh nhân Việt luôn có ý thức về triết lý, và đạo đức kinh doanh mang đậm bản sắc, tinh thần VN. Đó là không ngại gian khó, dám đương đầu trong sự cạnh tranh khốc liệt của cơ chế thị trường, để khẳng định và phát triển thương hiệu Việt. Điều này đang được được minh chứng qua cách mà các DN, trong đó có Hà Đô qua cơn bão suy thoái tài chính toàn cầu vừa qua.
Ông Vũ Quốc Tuấn - Chủ tịch Hiệp hội Làng nghề VN : Phát huy tinh thần dân tộc
Người đã từng nói, tất cả mọi người sinh ra đều có quyền sinh sống và mưu cầu hạnh phúc. Với giới doanh nhân, tôi hiểu rằng đây là quyền đem tài năng, công sức, trí tuệ, vốn liếng của mình để phục vụ và cống hiến cho DN, bởi vì số lượng DN càng nhiều thì chứng tỏ đất nước càng phát triển, đất nước phát triển được cũng có phần không nhỏ của giới doanh nhân, DN. Không bị hạn chế bởi giai cấp, anh nào có tài, có đức thì đều có thể làm được. Tôi nghiên cứu vấn đề DN, doanh nhân từ nhiều năm nay, đáng mừng là đội ngũ này hiện nay đa số là người trẻ tuổi, anh em có trí tuệ, đào tạo khá cơ bản. Qua điều tra, khảo sát thấy phần lớn trong số họ đều có tinh thần yêu nước, lòng tự hào dân tộc. Nước chúng ta trước kia bị đô hộ, áp bức, giờ đã hoà bình, họ muốn đóng góp công sức của họ vào xây dựng và phát triển đất nước. Đây là điều thôi thúc họ đem vốn liếng của mình ra để xây dựng kinh tế, DN, DN ở đây theo tôi hiểu là DN từ nhỏ tới lớn, từ HTX, hộ gia đình... họ quyết tâm như thế là khó lắm ! Tôi cho rằng đây là tinh thần dân tộc mà Bác đã để lại cho nhân dân nói chung và cho giới DN, doanh nhân nói riêng. Phát huy tinh thần dân tộc mà Bác đã dạy trong bối cảnh xây dựng đất nước, tức là phát huy tối đa tinh thần dân tộc, theo tôi trước hết là không phân biệt giai cấp, tầng lớp, mọi người cùng chung tay, góp sức xây dựng đất nước. Thứ hai, trong kinh doanh phải bình đẳng, không ưu ái anh này, anh kia. Thứ ba, Nhà nước cần tiếp tục hỗ trợ cộng đồng DN khắc phục khó khăn trong mọi lĩnh vực. |
Nguyễn Ngọc Phúc