Thứ Ba, 29/06/2010 - 18:18

Chuyển đổi doanh nghiệp Nhà nước: Chưa thể về đích!

Đa số các diễn giả tham dự Diễn đàn “Những vấn đề đặt ra đối với DNNN trước và sau chuyển đổi” đều nhận định rằng, nếu lấy mốc ngày 1/7/2010 là thời hạn chót chuyển đổi DNNN hoạt động theo Luật DNNN sang hoạt động theo Luật Doanh nghiệp thì chắc chắn sẽ còn nhiều doanh nghiệp “lỗi hẹn”.
 
Sức ép
 
GS.TS Nguyễn Đình Tài nhận định: xét trên góc độ quản trị DNNN ở Việt Nam hiện nay tồn tại 3 vấn đề chính. Thứ nhất, về cơ bản vẫn chưa xác định được chủ sở hữu Nhà nước một cách rõ ràng, dẫn tới khó định hình cơ cấu quản trị DNNN hiệu quả. Tiếp đến là thực trạng, Nhà nước chưa là chủ sở hữu chuyên nghiệp và chưa đảm bảo nguyên tắc thực hiện quyền của chủ sở hữu Nhà nước quy định tại Điều 168 Luật Doanh nghiệp nên chưa đủ khả năng và thực lực để đảm nhiệm vai trò của một nhà đầu tư vốn. Một vấn đề nữa là việc thực thi các quyền, nghĩa vụ của chủ sở hữu Nhà nước tại DNNN thông qua hệ thống người đại diện đang phát sinh nhiều bất cập. 
Đông đảo các doanh nghiệp tham gia Diễn đàn
 
Theo TS.Trần Tiến Cường - Trưởng Ban cải cách và phát triển doanh nghiệp, Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương, Nghị định 25/2010/NĐ-CP về chuyển đổi Công ty nhà nước thành Công ty TNHH một thành viên và tổ chức quản lý Công ty TNHH một thành viên do nhà nước làm chủ sở hữu đã đơn giản hoá các thủ tục chuyển đổi, tuỳ đối tượng doanh nghiệp mà lược bỏ các bước cần thiết của chuyển đổi. Tuy nhiên, vẫn còn vướng mắc về chọn mô hình HĐTV (Hội đồng thành viên) hay Chủ tịch công ty, việc kiêm nhiệm hay tách bạch giữa Chủ tịch công ty và Tổng giám đốc. Thực trạng chuyển đổi đến nay cho thấy phần lớn công ty TNHH một thành viên tổ chức theo mô hình Chủ tịch công ty kiêm Tổng giám đốc (chiếm bình quân 54,29% số công ty TNHH một thành viên cả nước và 72,%% ở công ty TNHH một thành viên địa phương).  

Số liệu của Bộ Tài chính cho thấy, năm 2009, cả nước chỉ cổ phần hoá được vỏn vẹn 60 DN và bộ phận DN, đạt 8,4% kế hoạch. Đây là năm mà tốc độ cổ phần hoá đạt thấp nhất từ trước đến nay. Nguyên nhân chủ yếu, theo phân tích của các chuyên gia thuộc Nhóm tư vấn chính sách thực hiện Dự án Hỗ trợ phân tích chính sách tài chính do UNDP tài trợ (PAG), là do tình hình kinh tế suy giảm, thị trường chứng khoán liên tục đi xuống, nên việc phát hành cổ phiếu để tiến hành cổ phần hoá gặp rất nhiều khó khăn.

 
Vướng mắc tiếp theo là tên gọi của các tổng công ty, tập đoàn kinh tế sau chuyển đổi. Tên của doanh nghiệp chuyển đổi theo Nghị định 25/2010/NĐ-CP và Nghị định 43/2010/NĐ-CP về đăng ký doanh nghiệp đều gọi là công ty TNHH một thành viên và kèm theo thành tố tên riêng của doanh nghiệp. Tuy nhiên khi áp dụng cách gọi này lại không phù hợp với tên gọi của tập đoàn kinh tế và tổng công ty. Tên gọi của tập đoàn kinh tế được quy định tại khoản 3 Điều 13 Nghị định 43/2010/NĐ-CP là do Thủ tướng quyết định. Riêng đối với tổng công ty thì việc gọi tên theo quy định về đặt tên doanh nghiệp tại khoản 1 và 2 Điều 13 Nghị định 43/2010/NĐ-CP sẽ phát sinh vấn đề bất cập giữa tên tổng công ty và tên của doanh nghiệp thành viên vì khi chuyển đổi cả 2 đối tượng này đều được gọi là công ty TNHH một thành viên. Vì theo cấp bậc, giữa tổng công ty và doanh nghiệp thành viên là 2 thực thể khác nhau và có quan hệ "lớn - bé", nên tên gọi giữa 2 đối tượng này cũng phải khác nhau, tên của tổng công ty thường phản ánh vị thế cao hơn, to hơn (có kèm theo chữ “tổng”) so với doanh nghiệp thành viên. Vì thế, có ý kiến đề nghị gọi là Tổng công ty TNHH một thành viên.    
TS.Trần Tiến Cường - Trưởng Ban cải cách và phát triển doanh nghiệp,Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương phát biểu tại Diễn đàn

Một vấn đề nữa sau chuyển đổi DNNN đặt ra là vấn đề về kiểm soát viên. Kiểm soát viên có vai trò quan trọng và gắn với chủ sở hữu, giúp chủ sở hữu kiểm soát được tình hình tổ chức thực hiện quyền chủ sở hữu, trong quản lý, điều hành công ty. Kiểm soát viên có chức trách, nhiệm vụ, quyền hạn khác với chức danh thành viên Ban kiểm soát của công ty nhà nước có HĐQT. Việc lựa chọn, bổ nhiệm Kiểm soát viên là vấn đề mới, chưa có tiền lệ trong công ty nhà nước. "Do đó, cần cân nhắc kỹ các căn cứ để bổ nhiệm" - TS.Trần Tiến Cường lưu ý.

Hiện các Bộ, UBND cấp tỉnh, tổng công ty và tập đoàn đang có những nỗ lực cho việc chuyển đổi, nhưng do số lượng doanh nghiệp nhiều, nên việc tất cả các doanh nghiệp hoàn thành toàn bộ quy trình chuyển đổi là một thách thức, sức ép về thời hạn chuyển đổi không dễ vượt qua. Theo ông Vũ Đình Ánh - Viện nghiên cứu giá cả (Bộ Tài chính), nếu lấy mốc ngày 1/7/2010 xem là về đích thì chưa thể về đích được, điều này là do trong thời gian qua tình hình lạm phát cao ở nước ta, và do ảnh hưởng của tình hình khủng hoảng kinh tế thế giới nên các doanh nghiệp không chuyển đổi kịp. Trong khi đó, chỉ còn vài ngày nữa là đã đến hạn chót rồi.

Bà Nguyễn Kim Toàn – Vụ trưởng Vụ đổi mới Doanh nghiệp, Văn phòng Chính Phủ cho biết, hiện còn một số doanh nghiệp chưa chuyển đổi là do kinh doanh thua lỗ hoặc do vốn chưa đủ. Theo bà, điều mà doanh nghiệp vướng trước tiên là chưa có sự thống nhất, liên kết khi đăng ký kinh doanh. Vướng thứ hai chính là việc đổi tên doanh nghiệp. Theo bà, các doanh nghiệp trước khi chuyển đổi thì nhiệm vụ chính là phải ban hành được điều lệ để hoạt động theo mô hình chuyển đổi mới.  

“Bình mới rượu mới”? 

Phát biểu tại diễn đàn, TS Vũ Tiến Lộc - Chủ tịch Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) khẳng định, quá trình thay đổi này sẽ nâng cao hiệu quả, sức cạnh tranh của các doanh nghiệp nhà nước. Khẳng định vai trò của khu vực DNNN, ông Lê Xuân Bá - Chủ tịch Câu lạc bộ DNNN cho rằng, khu vực DNNN có vai trò cực kỳ quan trọng, bởi họ nắm một lượng tài sản khổng lồ của đất nước, nguồn nhân lực có trình độ cao. Nếu khu vực này hoạt động tốt thì nhà nước phát triển còn không thì sẽ ngược lại. Như vậy, quá trình chuyển đổi này là bước đi quan trọng để đổi mới nền kinh tế và là việc làm cần thiết. 

Bà Nguyễn Kim Toàn khẳng định, việc chuyển đổi DNNN không thể xem là “bình mới rượu cũ” bởi sau chuyển đổi thực tế trong quá trình này, các DN sẽ rà soát lại ngành nghề kinh doanh.

Ông Hồ Sỹ Hùng - Cục trưởng Cục phát triển Doanh nghiệp, Bộ Kế hoạch và Đầu tư cho biết, hai điều kiện quan trọng để hình thành nên tập đoàn đó là quy mô lớn và phải liên kết dựa trên lợi ích kinh tế. Ông Hùng khẳng định sự cần thiết ra các Quyết định thành lập các tập đoàn kinh tế thời gian qua. Việc hình thành và phát triển tập đoàn kinh tế là quá trình và quá trình này phải được thể hiện bằng mô hình, bằng các thể chế phù hợp với từng doanh nghiệp.  

Tại Diễn đàn, ông Vũ Ngọc Tự - Chủ tịch HĐQT TCty Chè Việt Nam - một doanh nghiệp đã hoàn thành việc chuyển đổi sang mô hình Tổng công ty khẳng định việc chuyển đổi mô hình này không phải là “bình mới rượu cũ”. Tổng công ty chè Việt Nam hoạt động theo hình thức công ty mẹ, 3 công ty con và có các chi nhánh. Theo ông, sau chuyển đổi thì vấn đề quan trọng nhất là việc đưa ra được điều lệ cho doanh nghiệp, điều chỉnh lại hàng loạt các quy chế trong nội bộ.
 
Ông Hồ Sỹ Hùng cũng cho biết, Nhà nước phải tạo môi trường hỗ trợ cho quá trình này như: thúc đẩy tích tụ, tập trung, thúc đẩy liên kết, hoàn chỉnh khung pháp lý (Nghị định 101; Luật DN; chủ sở hữu; quản trị dựa trên sự minh bạch và chế độ báo cáo; …); tạo lập điều kiện thuận lợi như tiếp cận dự án, nguồn vốn, bảo vệ thương hiệu, sở hữu trí tuệ…; thúc đẩy thị trường bằng các hiệp định, các cam kết song phương, đa phương, thực hiện dự án...
Cần tìm một “nhạc trưởng”
 
Trao đổi với Diễn đàn Doanh nghiệp bên lề Diễn đàn, luật gia Vũ Xuân Tiền - Chủ tịch Hội đồng thành viên Cty TNHH tư vấn VFAM VN khẳng định: “muốn chuyển đổi DNNN thành công phải tìm được “nhạc trưởng””.
 
- Thời hạn chót của việc chuyển đổi DNNN đã cận kề nhưng còn quá nhiều vấn đề đáng bàn, nhất là tiến trình cổ phần hóa. Theo ông, đâu là nguyên nhân chính của tất cả những "mắc mớ" này? 
 
Việc chậm chuyển đổi DNNN trong giai đoạn vừa qua có nhiều nguyên nhân. Nguyên nhân thứ nhất là do khung pháp lý. Biểu hiện là chưa có văn bản luật nào mang tính chất về cổ phần hoá, chỉ có chỉ đạo bằng các Nghị định của Thủ tướng. Nguyên nhân thứ 2 là về mặt tư tưởng. Những người đang nắm quyền ở các doanh nghiệp nhà nước họ không mặn mà lắm với việc cổ phần hoá. Thứ ba, trong thời gian qua chúng ta đặt ra một hàm đa mục tiêu cho việc cổ phần hoá mà những mục tiêu này chúng lại mâu thuẫn nhau cho nên không thể đáp ứng được. Ví dụ, chúng ta muốn biến tất cả những người lao động thành cổ đông vì vậy có rất nhiều chính sách cho người lao động, nào là bán cổ phần ưu đãi 70%, bán cổ phần ưu đãi 70% theo mệnh giá…những cái đó thường bị cho rằng ép người lao động làm cổ đông và chính bản thân họ cũng không thích. Những người lao động họ là cổ đông rất nhỏ trong doanh nghiệp, do đó họ không mặn mà và không có tiếng nói gì trong đại hội cổ đông.  
 
- Vậy, theo ông khung pháp lý của ta có cần phải thay đổi? 
 
Theo tôi, Chính phủ cần ban hành hàng loạt văn bản quy phạm pháp luật về cổ phần hoá, chuyển đổi hình thức sở hữu đối với các công ty TNHH một thành viên hình thành sau chuyển đổi, bởi các văn bản hiện nay mới chỉ dừng lại ở vấn đề chuyển đổi các doanh nghiệp nhà nước, hơn nữa các văn bản trước đây về nguyên tắc là đã hết hiệu lực thi hành. 
 
Thứ hai, Quốc hội cần đưa việc giám sát thực hiện cổ phần hoá các công ty TNHH một thành viên vào chương trình giám sát của mình và Chính phủ cũng khẩn trương có văn bản quy định về lộ trình thực hiện việc cổ phần hóa các công ty TNHH một thành viên sau ngày 1/7/2010. Trong Nghị định 25/2010/NĐ-CP quy ước rõ những công ty đáng lẽ trong diện cổ phần hoá nhưng lại chưa cổ phần hoá được thì vẫn phải tiếp tục cổ phần hoá theo lộ trình của Thủ tướng Chính phủ quy định. Đến nay chưa thấy ai công bố lộ trình đó cả. Liệu năm 2010 có xúc tiến việc cổ phần hoá hay không, hay phải đến năm 2011. Tôi cho rằng, việc chuyển đổi này vẫn rất chậm bởi quan trọng là người ta không muốn chuyển đổi hình thức này. 
 
- Nếu làm theo đúng lộ trình thì sao thưa ông? 
 
Nếu làm theo đúng lộ trình thì sẽ không kịp tiến độ và nếu không kịp tiến độ thì chúng ta vi phạm cam kết của chúng ta khi gia nhập tổ chức thương mại Thế giới WTO. Vì vậy, để không vi phạm, chúng ta phải chuyển đổi về mặt hình thức, còn về mặt chuyển đổi nội dung thì chắc phải diễn ra trong nhiều năm chứ không phải ngày một ngày hai. 
 
- Theo ông, chúng ta mất khoảng bao nhiêu năm để có thể chuyển cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước còn lại? 
 
Cái này rất khó có thể đánh giá được. Chỉ lấy ví dụ như chương trình cổ phần hoá DNNN chúng ta thực hiện từ những năm 1993, vậy mà suốt thời gian qua mới cổ phần hoá được rất ít và không có năm nào đạt được kế hoạch. Thời gian tới, nếu Chính phủ không chỉ đạo một cách sát sao thì sẽ rơi vào tình trạng như cũ. Điều quan trọng nhất là không có một nhạc trưởng nào trong chương trình chuyển đổi sở hữu DNNN, cho nên khi không hoàn thành kế hoạch thì cũng chẳng có cơ quan nào bị phê bình, chẳng có ai bị khiển trách và Quốc hội gần như cũng không có ý kiến gì trong việc giám sát chương trình này. Do đó, quan trọng nhất là chúng ta cần tìm một “nhạc trưởng” - người được coi là đứng mũi chịu sào sẽ chịu trách nhiệm thì hy vọng việc cổ phần hoá mới diễn ra nhanh chóng.
Lưu Vân thực hiện

N.Phương - Lưu Vân

search