Chủ Nhật, 18/07/2010 - 05:05

Quản lý Quỹ đầu tư tại Việt Nam : Không dễ thành công !

Sự việc hai quỹ VEIL và VDF của Dragon Capital bị gây sức ép thoái vốn mặc dù đã được giải quyết ổn thỏa, nhưng cũng để lại những dư âm đáng quan tâm về hoạt động quản lý quỹ đầu tư tại VN. DĐDN đã có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Việt Đức - Phó Giám đốc phân tích Cty CP quản lý Quỹ đầu tư Sài Gòn - Hà Nội xung quanh vấn đề này.

- Ông đánh giá thế nào về vụ việc 2 quỹ trực thuộc Dragon Capital bị cổ đông gây sức ép thoái vốn ? Sự kiện này nói lên gì về tình trạng chung của các Cty quản lý quỹ hiện nay?

Việc hai quỹ VEIL và VDF của Dragon Capital bị gây sức ép thoái vốn minh chứng cho những khó khăn quỹ đầu tư ở thị trường VN đang gặp phải do giá chứng chỉ quỹ trên thị trường thấp hơn nhiều so với giá trị ròng (NAV) của chứng chỉ quỹ. Theo báo cáo của Rothchild, các quỹ ở VN có mức chiết khấu lớn so với NAV và so với mức chiết khấu trung bình ở các thị trường khác: chiết khấu là 29% đối với 21 chứng chỉ quỹ nước ngoài, 39,8% đối với 4 chứng chỉ quỹ trong nước, 40% đối với 4 chứng chỉ quỹ đầu tư tư nhân và 47,9% đối với 5 quỹ bất động sản.

Biểu đồ so sánh chiết khấu và hiệu quả hoạt động (NAV) của VN so với một nước trong khu vực
 
Quy mô thị trường nhỏ, sản phẩm quỹ đơn giản và ít thanh khoản, loại hình chủ yếu là quỹ đóng... là nguyên nhân của mức chiết khấu cao khiến cho các quỹ là mục tiêu tấn công hấp dẫn cho các quỹ đầu cơ. Một số quỹ trong lúc thị trường lên cao (2006-2007) đã liên tục huy động thêm vốn và thưởng hậu hĩnh cho những nhà quản lý quỹ trong khi kết quả sau đó lại kém nên khiến các quỹ này bị đặt câu hỏi về tính minh bạch quản trị. Các quỹ đầu cơ do đó có thể tấn công theo điều khoản “trust-busting”, yêu cầu giải tán quỹ khi họ chứng minh được rằng các nhà quản lý quỹ đã không làm tròn nhiệm vụ của mình và hưởng lợi cá nhân trong khi gây thiệt hại cho cổ đông.

- Liệu các quỹ trong nước hiện có chịu sức ép như vậy không ?

Cho tới nay thì cũng chưa có trường hợp quỹ trong nước nào bị tấn công, không phải vì các quỹ trong nước hoạt động hiệu quả hơn quỹ nước ngoài mà do các quỹ này được bảo vệ tốt hơn bởi hệ thống luật pháp và điều lệ quỹ. Tuy nhiên, khi các quỹ bảo vệ mình quá cao thì nhà đầu tư cũng không mặn mà với việc góp vốn.

- Đánh giá khách quan, thế mạnh và điểm yếu của các quỹ trong nước so với quỹ nước ngoài là gì, thưa ông ?

So với các quỹ ngoại, lợi thế của các quỹ trong nước là sự thông hiểu tập quán kinh doanh, các mối quan hệ tốt và sự nhanh nhạy trước các cơ hội kinh doanh. Tuy nhiên, điểm yếu của quỹ nội trong cạnh tranh cũng không ít. Thứ nhất, do còn non trẻ và bản thân thị trường có tính minh bạch kém nên phần lớn các quỹ trong nước chưa tạo dựng được uy tín trong việc huy động vốn dài hạn từ nước ngoài. Thứ hai, kinh nghiệm đầu tư và sự chuyên nghiệp còn yếu. Thứ ba, phần lớn các quỹ nội không thể đóng góp tăng chất lượng kinh doanh và quản lý để trực tiếp nâng cao giá trị DN mà có lẽ chỉ giúp cổ phiếu DN giao dịch tốt hơn và sát với giá trị hợp lý hơn.

- Nói như vậy thì phải có một lối đi để có thể phát triển hoạt động quản lý quỹ trong tương lai, thưa ông ?

Hiện nay vai trò của các Cty quản lý quỹ còn nhỏ do các Cty quản lý quỹ yếu thế hơn trong cạnh tranh so với các Cty chứng khoán. So với phần lớn các Cty quản lý quỹ, Cty chứng khoán có vốn tự có không thua kém đồng thời có vay vốn với tư cách một Cty, sức ép từ cổ đông ít hơn do sự phân tán của cổ đông và sự tập trung cổ phiếu trong tay cổ đông sáng lập. Cty chứng khoán cũng có nghiệp vụ tự doanh, trong khi bản thân họ lại được tiếp cận các nguồn Cty sắp niêm yết và niêm yết thuận lợi hơn do Cty chứng khoán còn có chức năng tư vấn niêm yết.

Để tạo một sân chơi công bằng hơn cho các Cty quản lý quỹ, việc cần thiết là tăng tính thanh khoản và sự đa dạng cho các sản phẩm quỹ. Việc cho phép thành lập quỹ mở sắp tới là một bước tiến quan trọng giúp cho giá chứng chỉ quỹ giao dịch sát với giá trị tài sản ròng. Việc cho phép áp dụng trong chừng mực hợp lý các sản phẩm đầu tư (bán khống, sản phẩm phái sinh...) là cần thiết vì phần lớn lợi nhuận của các quỹ đầu tư quốc tế không phải đến từ việc chạy theo thị trường (đoán đáy, đoán đỉnh) mà từ khả năng dùng chất xám để mang lại lợi nhuận cho nhà đầu tư trong mọi bối cảnh thị trường. Mức tăng trưởng NAV của các quỹ VN hiện thấp hơn chỉ số chuẩn (Index), trong khi đó ở nước ngoài các quỹ tính trung bình hoạt động tốt hơn. Điều này không hẳn do trình độ của các quỹ tại VN là kém mà do có quá ít các sản phẩm đầu tư để các quỹ có thể “chiến thắng” thị trường. Khi không thể chiến thắng thị trường thì quỹ cũng không thể huy động vốn đầu tư thành công.

Ngược với quỹ ở các nước trong khu vực, quỹ đầu tư tại VN kém hiệu quả hơn so với chỉ số Index và có mức chiết khấu lớn so với NAV.

- Một định hướng phát triển mới của các quỹ có thể giúp ích gì cho thị trường nói chung và nhà đầu tư cá nhân nói riêng ?

Nhà đầu tư cá nhân hiện vẫn ưa chuộng hình thái lướt sóng nhưng gần đây, không nhiều nhà lướt sóng thu được lợi nhuận do thị trường ở trạng thái lình xình, ít biến động. Theo quan điểm của tôi thì thị trường chỉ tăng mạnh trong năm đầu tiên sau khủng hoảng (2009) và từ năm 2010 trở đi, thị trường sẽ tăng chậm và có sự phân hóa lớn giữa các Cty khác nhau. Đây là thời điểm mà chiến thuật đầu tư cơ bản sẽ lên ngôi, trong đó đáng chú ý là các Cty chưa niêm yết với mặt bằng giá cổ phiếu thấp hơn và một số các công ty niêm yết có quy mô nhỏ có tiềm năng tăng trưởng tốt. Đây là mảng thị trường mà nhà đầu tư tổ chức có lợi thế hơn về thời gian, kinh nghiệm và nguồn vốn so với nhà đầu tư cá nhân.

Sự hình thành các quỹ mở, quỹ chỉ số... trong tương lai gần sẽ giúp thu hút lượng tiền nhàn rỗi từ những nhà đầu tư chưa tham gia thị trường. Mặc dù vốn hóa thị trường hiện đã đạt tới 45% GDP thì giao dịch thị trường mới ở mức trung bình 3.000 tỷ đồng/ngày hay 0,3% tổng vốn hóa. Vấn đề của thị trường VN không phải là thiếu hàng mà là thiếu luồng tiền mới tham gia. Một bộ phận thiểu số những người có thời gian, có trình độ có thể đầu tư cá nhân thì đã tham gia thị trường. Đa số hoặc chưa có sự tin tưởng vào thị trường hoặc chưa tìm được các sản phẩm đầu tư thích hợp để tham gia. Sự phát triển của các quỹ đầu tư, hiện mới chỉ chiếm khoảng 20% vốn hóa thị trường so với mức trung bình khoảng 80% ở các nước phát triển, là thước đo khách quan về lực cầu chứng khoán của đại bộ phận dân cư và chất lượng phát triển TTCK.

- Xin cảm ơn ông !

Mai Hương thực hiện

search