Thứ Bảy, 17/07/2010 - 05:05

Kinh tế biển VN : Tổng hợp hay đơn ngành ?

Hội nghị Xúc tiến đầu tư kinh tế biển VN 2010 vừa được tổ chức tại Hải Phòng với sự tham gia của các nhà quản lý, nhà nghiên cứu, các DN. Trong tập kỷ yếu có đầy đủ các nghiên cứu thuyết phục về tiềm năng và yêu cầu cần phát triển kinh tế biển. Tuy nhiên, kinh tế biển là đơn ngành hay đa ngành thì không thấy nghiên cứu nào đưa ra.

Vậy thì phát triển kinh tế biển VN là phát triển kinh tế nói... chung, hay là phát triển một ngành kinh tế... riêng ?

Thực ra thì, quyết tâm nâng cao khai thác tiềm năng biển, đảo để phát triển kinh tế và bảo vệ Tổ quốc đã được Đảng và Chính phủ đặt ra từ rất sớm, ngay từ khi thống nhất đất nước (1975) và trở nên đặc biệt mạnh mẽ từ đầu những năm 90 của thế kỷ trước. Trong giai đoạn này, nhiều chương trình nghiên cứu cấp nhà nước, cấp địa phương đã được tiến hành, và góp phần quyết định xây dựng nên các quyết sách cụ thể để phát triển kinh tế từng ngành, từng địa phương. Sự hình thành của mô hình Bộ Thuỷ sản, Chương trình đánh cá xa bờ, thành lập các TCty Hàng hải VN (Vinaline), TCty Công nghiệp tàu thuỷ VN (sau này là Vinashin), TCty Dầu khí VN, các TCty Thuỷ sản... đều là dẫn chứng cụ thể, sinh động của định hướng ấy. ...

Tiến sĩ Đỗ Nhất Hoàng - Cục trưởng Cục Đầu tư nước ngoài – Bộ KH-ĐT cho biết: “VN là một quốc gia có biển lớn trong vùng Biển Đông. Trung bình 100 km2 đất liền có 1 km bờ biển, cao gấp 6 lần giá trị trung bình của thế giới”. Ông còn cho biết: "Theo ước tính, quy mô kinh tế (GDP) biển và vùng ven biển VN bình quân đạt khoảng 47 - 48% GDP cả nước, trong đó GDP của kinh tế “thuần biển” đạt khoảng 20 - 22% tổng GDP cả nước. Trong các ngành kinh tế biển, đóng góp của các ngành kinh tế diễn ra trên biển chiếm tới 98%, chủ yếu là khai thác dầu khí, hải sản, hàng hải, du lịch biển”. Ông Hoàng khẳng định: Các ngành kinh tế có liên quan trực tiếp tới khai thác biển như đóng và sửa chữa tàu biển, chế biến dầu khí, chế biến thủy hải sản, thông tin liên lạc,... bước đầu phát triển, nhưng hiện tại quy mô còn rất nhỏ bé, chỉ chiếm khoảng 2% kinh tế biển và 0,4% tổng GDP cả nước, song trong tương lai sẽ có mức gia tăng nhanh hơn.

Như vậy, cứ theo ông Hoàng, thì cơ cấu hình thành nên kinh tế biển có sự đóng góp của các ngành kinh tế “thuần biển” và các ngành kinh tế không “thuần biển”. Nhưng sẽ cực khó để phân biệt đâu là kinh tế “thuần biển”, và đâu là không “thuần biển”. Và cũng rất khó để phân biệt ranh giới, sự khác biệt giữa những lĩnh vực ưu tiên.

Về hình thức, đầu tư ồ ạt cho phát triển công nghiệp đóng tàu thời gian qua hoàn toàn có thể xếp vào nỗ lực phát triển kinh tế hàng hải theo chiến lược ưu tiên của Đảng. Nhưng khi ngành công nghiệp này phát triển với sự hình thành của một loạt KCN đóng tàu, công nghiệp phụ trợ đóng tàu như thép, động cơ, nghi khí hàng hải, kèm theo đó là sự hình thành các khu đô thị ven biển vệ tinh của các KCN ấy, thì sẽ phải xếp đóng tàu vào lĩnh vực ưu tiên nào đây ? Hoàn toàn có thể đặt câu hỏi tương tự với việc đầu tư phát triển công nghiệp hoá dầu, vận tải biển... và ảnh hưởng của nó tới việc hình thành các ngành kinh doanh, dịch vụ kèm theo. Khái niệm “thuần biển” trong các trường hợp trên, dường như sẽ không thể hiện hết được tính liên kết, tổng hợp trong phát triển của các ngành này.

Mở rộng hơn, có thể thấy một quốc gia mạnh về biển không nhất thiết phải mạnh về công nghiệp... đóng tàu. Thuỵ Sĩ, Bỉ, Singapore... là những quốc gia mạnh về biển với những hãng tàu lớn nhất thế giới và dịch vụ, kỹ thuật hàng hải, hơn là những quốc gia có công nghiệp đóng tàu hàng đầu thế giới. Trong đó, Thuỵ Sĩ, Bỉ thậm chí còn là những quốc gia không có... biển.

Hiện nay, dọc theo bờ biển nước ta, có gần 200 KCN đã được thành lập với tổng diện tích gần 50.000 ha. Trong đó, 110 KCN đã đi vào vận hành với tổng diện tích gần 26.382 ha, và hàng trăm địa điểm có thể xây dựng cơ sở đóng và sửa chữa tàu, hay xây dựng hải cảng.

Có nghĩa, cần nhìn kinh tế biển như là một ngành kinh tế riêng, đem lại cơ hội phát triển nhanh chóng, hiệu quả cao và đóng vai trò chính, là động lực chính thúc đẩy phát triển kinh tế cả nước. Và vì thế, kinh tế biển, xứng đáng được xây dựng với một hệ thống lý luận, cơ sở, chương trình phát triển riêng. Thay vì chỉ thể hiện tại nghị quyết, hay tại vài quy hoạch phát triển cho một, hai chục năm trước mắt. Hoặc bị đánh đồng, bị cào bằng về nhận định và đầu tư như với những ngành kinh tế khác. Bài học rút ra từ Vinashin không hẳn chỉ vì thiếu kinh nghiệm, vì tốc độ phát triển quá nóng, hay sự cưng chiều thái quá với tập đoàn này. Cũng càng không phải do sự khủng hoảng kinh tế thế giới. mà trước tiên bắt nguồn từ thực tế thiếu cơ sở lý luận, cơ sở định hướng đầy đủ, đúng đắn trong nhìn nhận về vị trí và vai trò, tác động của ngành đóng tàu với phát triển kinh tế nói chung, phát triển kinh tế biển nói riêng. Cần nhấn mạnh là, những gì Vinashin đã được hưởng, đã xảy ra tại Vinashin, thì hoàn toàn có thể đã xảy ra hoặc sẽ xảy ra với phát triển ngành vận tải biển, hay dịch vụ hàng hải, nếu những ngành này cũng được đầu tư như Vinashin.

Nói như PGS TS Trần Đình Thiên - Viện Kinh tế VN, chiến lược biển chúng ta đã có nhưng chưa được thiết kế cụ thể, chưa được thực thi. Và đặc biệt, hiện vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc: chưa định hình rõ, chưa liên kết hoạt động (lợi thế, cơ cấu, thể chế điều phối, liên kết).

Vậỵ thì đầu tư cho hệ thống lý luận mang màu sắc VN trong phát triển kinh tế biển có đắt giá và mất nhiều thời gian như đóng tàu, vận tải biển, dịch vụ hàng hải... hay không? Có thể tiến hành cùng lúc với phát triển các ngành này hay không ? Đó có là vấn đề của các nhà chiến lược, nhà quản lý, DN, và nhà khoa học, chuyên gia kinh tế ?

Hoàng Yến

search