Thứ Sáu, 23/07/2010 - 07:15

Khơi thông vốn cách nào ?

Rất nhiều ý kiến chuyên gia kinh tế cho rằng trong khi lạm phát có thể bằng hoặc thấp hơn so với chỉ tiêu đặt ra thì việc cần làm hiện nay là nên khơi thông nguồn vốn đến DN. Bên lề hội thảo: “Những tác động đối với DN sau kỳ họp thứ 7 Quốc hội khóa XII" diễn ra mới đây tại TP HCM, TS Trần Du Lịch có một vài chia sẻ với DĐDN.

- Vấn đề “Những tác động đối với DN sau kỳ họp thứ 7 Quốc hội khóa XII" được cộng đồng DN quan tâm sâu sắc, vậy nhận định của ông như thế nào ?

Đúng là độ trễ của các chính sách tác động sâu sắc đến DN từ đầu năm 2010, khi gói kích cầu của Chính phủ kết thúc, và lạm phát bắt đầu tăng lại, khiến cho chính sách tiền tệ không được nới lỏng. Vì vậy, trong thời gian vừa qua, DN đã gặp khá nhiều khó khăn. Những thông tin lo ngại lạm phát sẽ trên 2 con số, cùng theo đó lãi suất cho vay lên cao, nếu cộng cả các loại phí thì có thể lên đến 16-18%/năm, khiến cho các DN rất dè dặt trong việc vay vốn. Trong khi đó, lãi suất cao cũng khiến nhiều ngân hàng lo ngại DN không có khả năng trả nợ nên cũng không mặn mà với việc cho vay. Vì vậy, cả ngân hàng và DN đều gặp khó trong kinh doanh những tháng đầu năm. Nếu lạm phát hơn 10%, lãi suất thêm khoảng 16% nữa thì DN phải có lợi nhuận rất cao mới bù đắp cân bằng trong hoạt động được. Tuy nhiên hiện nay, giai đoạn giá xăng đã giảm, giá điện, giá than cũng đã được cam kết không tăng trong 6 tháng thì đây là thời cơ thuận lợi cho DN.

- Ông nhận định như thế nào về mối quan hệ ngân hàng và DN thông qua con số tăng trưởng tín dụng 6 tháng đầu năm?

Với tăng trưởng tín dụng trong 6 tháng đầu năm chỉ dừng ở mức 10,52%, trong khi chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng cả năm là 25% thì trong thời gian 6 tháng còn lại của năm, việc nới lỏng tín dụng là việc nên làm để nguồn vốn được khơi thông đến nhiều ngõ ngách của nền kinh tế.

Nhưng có một thực tế khi kêu gọi các ngân hàng giảm lãi suất cho vay như hiện nay thì Chính phủ cần giám sát kỹ, và có biện pháp hỗ trợ kịp thời. Vì nếu ngân hàng có khoảng chênh lệch thấp giữa lãi suất huy động và cho vay thì sẽ khó giữ được mức lãi suất thấp như đã công bố. Bởi trên lý thuyết, từ 1/7, các ngân hàng đều tuân thủ nghiêm chỉnh quy định trên. Tuy nhiên, gần đây các ngân hàng đồng loạt “lách” quy định bằng cách áp dụng cùng một mức lãi suất cho tất cả các kỳ hạn như nhau. Như vậy, tính ra, lãi suất ngắn hạn cao hơn cả lãi suất dài hạn.

Trong khi đó, lãi suất thực phụ thuộc vào thời hạn và cách tính lãi chứ không chỉ phụ thuộc vào chỉ số phần trăm nên mặt bằng lãi suất vẫn cao”. Với cách “cào bằng” một mức lãi suất cho tất cả các kỳ hạn thì nếu ngân hàng cho vay với lãi suất 8%, lãi suất thực sẽ đội lên tới 15,3%. Như vậy, lại quay về vấn đề ngân hàng tiếp tục tăng các loại phí lên để bù cho khoản lợi nhuận thiếu hụt đó, và DN lại quay về với bài toán xoay xở cùng lãi suất. Về phía ngân hàng, vẫn còn thực trạng bộ phận thẩm định cho vay của nhiều ngân hàng hiện nay còn yếu, do vậy, chưa nhìn nhận đúng tính khả thi của các dự án, nên hầu như DN phải thế chấp.

Việc dẫn vốn đến DNNVV nên phát huy hiện nay là quỹ bảo trợ tín dụng cho DNNVV, thuộc Ngân hàng Phát triển

Theo tôi việc dẫn vốn đến DNNVV nên phát huy hiện nay là quỹ bảo trợ tín dụng cho DNNVV, thuộc Ngân hàng Phát triển. Nếu ngân hàng này làm tốt công tác thẩm định thì DN nhỏ sẽ dễ hơn trong việc tiếp cận vốn.

- Ông đánh giá thị trường vốn 6 tháng cuối năm sẽ diễn ra thế nào ?

Hiện tại lãi suất cho vay đã đồng loạt giảm từ tháng 7/2010 ở mức 14 -16% (tùy theo cho vay DN hay cho vay tiêu dùng). lãi suất dành cho 3 nhóm đối tượng ưu tiên là nông nghiệp nông thôn, DN xuất khẩu và DNNVV đang ở khoảng mức 12,5 – 13,5%/năm và dự báo sẽ còn giảm tiếp trong thời gian tới. Lãi suất giảm nhưng việc cho vay ra cũng chưa thể tăng ngay, điều này khiến cho mục tiêu tăng trưởng tín dụng những tháng cuối năm của các ngân hàng không hề đơn giản.

Trong điều kiện hiện nay, cộng với sức ép của vốn điều lệ đã tăng, các ngân hàng có thể sẽ phải nới lỏng điều kiện tín dụng để đẩy vốn ra. Có nghĩa là các ngân hàng đang chấp nhận mức rủi ro hơn và có thể là quá mức, điều này rất nguy hiểm nhất là các ngân hàng chưa thực sự chú trọng đến vấn đề quản lý rủi ro. Vì vậy, nếu tín dụng tăng trưởng mà tiêu chuẩn xét duyệt hạ thấp, kiểm soát lỏng lẻo... thì có thể tạo nên hiệu ứng bong bóng nhà đất, chứng khoán.

Trong bối cảnh hiện nay, khu vực sản xuất kinh doanh chưa thể “hấp thụ một cách dồn dập” dòng tiền này, vì vậy các ngân hàng cũng không nên nôn nóng chạy theo kế hoạch mà dễ gặp rủi ro.

- Xin cảm ơn ông !

Hải Ngọc thực hiện

search