Thứ Bảy, 21/08/2010 - 00:06

Liên kết sản xuất chương trình truyền hình: Khuyến khích nhưng quản lý chặt

“Nỗ lực tham gia liên kết sản xuất chương trình truyền hình và tạo ra những sản phâm mang nội dung thuần Việt của các đơn vị trong nước là điều cần được khuyến khích”, ông Lưu Vũ Hải, Cục trưởng Cục quản lý phát thanh – truyền hình và thông tin điện tử thuộc Bộ Thông tin và Truyền thông mở đầu cuộc chuyện trò với Doanh nhân bằng một lời khẳng định…

Sự góp mặt của các đơn vị xã hội hóa đã làm tăng sức hấp dẫn
cho các kênh truyền hình của Việt Nam
 
Thông tư 19/2009/TT - BTTTT quy định về việc liên kết trong hoạt động sản xuất chương trình phát thanh, truyền hình đã chính thức có hiệu lực tròn một năm. Chưa phải là một khoảng thời gian dài, nhưng cũng đã đủ để nhìn lại, để có thể đánh giá bước đầu về những gì đã làm được, khi văn bản từ con chữ trên giấy đi vào thực tế cuộc sống.

- Hoạt động - gọi nôm na là xã hội hóa truyền hình đã xuất hiện từ vài năm trước. Một văn bản chính thức, ban hành vào ngày 28/5/2009, xem ra có vẻ hơi muộn, thưa ông?

Trong thời gian rất dài, hoạt động liên kết sản xuất chương trình phát thanh - truyền hình, đặc biệt là trong lĩnh vực truyền hình chưa hề có trong tay một văn bản pháp quy chính thức nào. Cho dù chủ trương liên kết huy động nhiều nguồn lực xã hội hóa để giúp làm phong phú, đa dạng thêm cho các chương trình truyền hình đã có từ khá lâu. Chúng ta cũng đã và đang cấp phép cho các kênh truyền hình nước ngoài được tiếp cận khán giả Việt Nam, chủ yếu thông qua hệ thống truyền hình trả tiền. Vì vậy, nếu sự góp mặt của các đơn vị xã hội hóa, thông qua hoạt động liên kết giúp đổi mới phương pháp tư duy, quy trình sản xuất và tăng sức hấp dẫn cho các kênh truyền hình của Việt Nam thì Nhà nước đương nhiên phải khuyến khích.

Nhưng bên cạnh việc tạo điều kiện thuận lợi, cũng cần phải xác định rõ phạm vi, giới hạn để hoạt động liên kết này phát huy được hiệu quả tích cực, không phát triển theo hướng tràn lan hoặc bị lạm dụng. Một văn bản quy phạm pháp luật đầu tiên đã chính thức có hiệu lực là Thông tư số 19/2009/TT- BTTTT. Nó giúp điều chỉnh trực tiếp việc liên kết trong hoạt động sản xuất chương trình, và hoạt động liên kết sản xuất chương trình truyền hình đã chính thức được pháp luật công nhận, được minh bạch hóa, công khai hóa về quyền, trách nhiệm và nghĩa vụ của cả hai phía (Đài PT - TH và đối tác liên kết). Vì vậy mặc dù Thông tư này đến 2009 mới được ban hành nhưng đã đáp ứng nhu cầu thực tiễn và phù hợp với xu thế phát triển.

- Đã một năm tròn, kể từ ngày Thông tư có hiệu lực, ông có thể đưa ra những đánh giá ban đầu?

Sau một năm triển khai, hầu hết các đài lớn từ trung ương tới địa phương có hoạt động liên kết sản xuất chương trình đều đã nghiêm túc thực hiện văn bản này, bằng cách từng bước hoàn tất hồ sơ đăng ký các chương trình, các kênh có đối tác liên kết tham gia. Theo đánh giá của chúng tôi, giá trị pháp lý và thực tiễn của Thông tư đã bước đầu được khẳng định. Nó cũng giúp khuyến khích các nguồn lực xã hội chung tay góp sức, đồng thời cũng định hướng hoạt động liên kết phát triển lành mạnh và hiệu quả hơn.

- Trong các gói dịch vụ của hệ thống truyền hình trả tiền, chương trình xã hội hóa mới toanh cứ liên tục “ra lò”. Đã có một vài con số cụ thể, về số kênh chương trình mới được cấp phép kể từ ngày Thông tư ra đời chưa, thưa ông?

Nói là một năm nhưng khoảng thời gian thực tế thì không nhiều đến vậy và luôn có độ lùi nhất định. Bởi tính từ thời điểm Thông tư ban hành, cũng cần có thời gian để Thông tư có hiệu lực, sau đó cần có thời gian để các đài PT - TH nghiên cứu, tìm hiểu nội dung một cách kỹ càng để từ đó tiến hành các thủ tục đăng ký, đề nghị cấp phép cần thiết. Vì vậy, dự kiến cuối năm chúng tôi mới có thể tổng kết và đưa ra những con số chính xác được.

- Một số ý kiến cho rằng, thực chất hoạt động xã hội hóa sản xuất kênh truyền hình phải gọi bằng cái tên “tư nhân hóa kênh truyềnh hình” mới chính xác. Họ lý giải, “tư nhân đầu tư toàn bộ máy móc, toàn quyền tuyển dụng nhân sự, chương trình hay phim cũng do họ tự sản xuất hoặc tự mua…, tất cả là của họ thì không thể gọi là xã hội hóa”. Ông nghĩ sao?

Xin phép không đi sâu vào bình luận cách sử dụng ngôn từ. Bởi với cùng một sụ việc, nếu cách hiểu, cách biểu đạt khác nhau thì ta sẽ có những cách gọi khác nhau. Nhìn trực diện vào bản chất sự việc sẽ nắm bắt chính xác tinh thần của nó hơn. Như trên đã nói, hoạt động liên kết sản xuất chương trình truyền hình về thực chất là huy động các nguồn lực xã hội, giúp tạo ra những chương trình, nội dung thuần Việt, phù hợp với thuần phong mỹ tục và văn hóa Việt, đáp ứng nhu cầu hưởng thụ những giá trị tinh thần của đông đảo công chúng một cách hiệu quả nhất, còn toàn bộ nội dung phát sóng vẫn phải do đài PT - TH là cơ quan báo chí chịu trách nhiệm trước pháp luật. Vì vậy, không có chuyện tư nhân có quyền quyết định nội dung phát sóng. Hiểu nhu thế, sẽ không ai còn phải băn khoăn tìm câu trả lời chính xác giữa hai khái niệm ấy. Tôi tin thế.

- Thế còn ý kiến phản biện rằng, với bộ máy nhân lực quản lý còn hạn chế của các đài PT - TH, với số kênh xã hội hóa được cấp phép tăng chóng mặt như hiện nay, việc quản lý nội dung các kênh liên kết này của đài xem ra là điều bất khả thi? 

Chủ trương chung là khuyến khích, nhưng quá trình xem xét, cân nhắc những điều kiện cần và đủ để cho ra đời một kênh truyền hình trả tiền mới phải vô cùng chặt chẽ và nghiêm túc

Điều 10, Chương II của Thông tư đã quy định về quyền và nghĩa vụ của đài như sau: “Tổng Giám đốc, Giám đốc đài phát thanh - truyền hình có hoạt động liên kết phải chịu trách nhiệm toàn bộ về nội dung các sản phẩm liên kết và hoạt động khai thác sản phẩm liên kết theo quy định của pháp luật về báo chí”. Đó là một nguyên tắc bất di bất dịch, qui định đơn vị báo chí - đài truyền hình phải chịu trách nhiệm toàn bộ về nội dung chương trình, bất kể họ liên kết với ai, sản xuất những nội dung gì.

- Nhưng thưa ông, thời gian gần đây đã xảy ra khá nhiều sai phạm. Ví dụ, kênh chuyên biệt về phim truyện VBC lấn sân khá nhiều chuyên mục ngoài phim. Xử lý HTV2 phải trở về đúng là kênh thể thao (như trong giấy phép) và không được chiếu phim cùng các chương trình trò chơi, buộc SCTV phải ngưng phát 29 kênh không có giấy phép… Trách nhiệm của đơn vị chủ quản – các đài TH – là không nhỏ. Và trên nữa là các cơ quan ban hành và thực thi luật?

Chúng ta luôn phải phân biệt rõ ràng hai lĩnh vực: xây dựng chính sách - tổ chức thực thi. Chính sách đúng nhưng thực thi không tốt đồng nghĩa với văn bản pháp luật không đi được vào cuộc sống. Chỉ khi chính sách đúng - thực hiện đúng thì chúng ta mới đạt được hiệu quả cao nhất. Trong thực tế, thường xảy ra độ vênh và không đồng bộ giữa hai lĩnh vực này. Vì vậy, vai trò của cơ quan quản lý nhà nước, ngoài xây dựng và ban hành chính sách, còn phải liên tục thanh kiểm tra và xử lý sai phạm (nếu có).

- Vậy với những sai phạm trên liệu các cấp quản lý có tính tới biện pháp nào để răn đe một cách nghiêm khắc không?

Hiện tại, hình thức liên kết sản xuất toàn bộ kênh truyền hình chủ yếu tập trung ở hệ thống truyền hình trả tiền. Và chúng ta chưa có một văn bản pháp luật để điều chỉnh đồng bộ hoạt động của hệ thống truyền hình trả tiền này. Nhưng hiện Bộ TT - TT đã trình Thủ tướng Chính phủ xem xét bản quy chế quản lý truyền hình trả tiền, trong đó tất cả những công việc như cấp phép, thu hồi giấy phép sẽ được quy định cụ thể, rõ ràng. Khi Quy chế được thông qua thì việc xử lý những đơn vị vi phạm và kể cả những kênh hoạt động kém hiệu quả, xa rời yêu cầu, đòi hỏi của khán giả màn ảnh nhỏ sẽ triệt để và hiệu quả hơn. Và đương nhiên, chỉ có những kênh, những chương trình thực sự chất lượng, giúp thỏa mãn được nhu cầu ngày càng cao của xã hội mới có thể tồn tại mà thôi.

- Ông luôn nhấn mạnh chủ trương khuyến khích của Nhà nước với hoạt động liên kết này. Nhưng cũng đã có một vài ý kiến than phiền rằng, quy trình để có được tờ giấy phép thường khá dài khiến doanh nghiệp lâm vào thế bị động với việc huy động nguồn vốn, nguồn nhân lực và xây dựng kế hoạch sản xuất dài hơi?

Hiện Bộ TT – TT đang trình Thủ tướng Chính phủ xem xét bản quy chế quản lý truyền hình trả tiền

Nhân nói về vấn đề cấp phép, xin được khẳng định, chủ trương chung là khuyến khích nhưng quá trình xem xét, cân nhắc những điều kiện cần và đủ để cho ra đời một kênh truyền hình trả tiền mới phải vô cùng chặt chẽ và nghiêm túc. Hồ sơ đăng ký phải bao gồm các thông tin đầy đủ (tên, nội dung, định dạng chương trình, thời điểm, thời lượng, kênh phát sóng, địa chỉ và năng lực của đối tác liên kết, hình thức liên kết…). Lộ trình cấp phép ra kênh truyền hình trả tiền đã được Bộ TT –-TT công khai thủ tục hành chính. Trường hơp không chấp thuận, Bộ phải nêu rõ lý do. Làm chặt khâu đầu vào, chúng ta sẽ tránh được những trường hợp lạm dụng chủ trương khuyến khích của Nhà nước như xin phép rồi để kênh tồn tại lay lắt, bán lại giấy phép hoặc cấp phép cho những đơn vị không đủ năng lực…

- Kênh mới ra mắt liên tục. Trong đó, theo quan sát của tôi, phần đa hướng tới nhu cầu giải trí, hưởng thụ của một bộ phận khán giả trẻ thuộc các đô thị lớn. Kênh mang tính định hướng, giáo dục hoặc có sức lan tỏa lớn trong cộng đồng rất hiếm. Liệu cơ quan quản lý có cần đưa ra một tỷ lệ cân đối, khi xem xét hồ sơ cấp phép cho các kênh truyền hình hay không?

Con số, tỷ lệ phần trăm cố định thì không có, nhưng trong quá trình nghiên cứu hồ sơ, cơ quan quản lý luôn đặt trong cái nhìn tổng thể về toàn bộ hệ thống của cơ quan báo chí đứng ra xin cấp phép. Và từ đó sẽ cố gắng có được một tỷ lệ hài hòa giữa các nhóm kênh tổng hợp - phim truyện - thể thao - ca nhạc - chuyên đề ... Sự mất cân đối, vì thế, sẽ hạn chế được.

- Cảm ơn ông đã trao đổi với Doanh nhân về vấn đề này!

Cúc Phương (thực hiện)
search