Thứ Năm, 16/09/2010 - 23:06

Sẽ siết chặt điều kiện kinh doanh chứng khoán

Bổ sung quy định cấm việc thực hiện nghiệp vụ kinh doanh chứng khoán khi chưa được Ủy ban Chứng khoán Nhà nước cấp phép hoặc chấp thuận, theo Bộ trưởng Bộ Tài chính Vũ Văn Ninh là hết sức cần thiết. Bởi trong thời gian vừa qua đã có nhiều doanh nghiệp không phải là công ty chứng khoán thực hiện các hoạt động môi giới, tư vấn đầu tư chứng khoán mà không có giấy phép của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước.

Dự thảo luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chứng khoán sẽ tạo cơ sở pháp lý

để cơ quan quản lý nhà nước xử lý các trường hợp vi phạm

Đây là một trong những nội dung quan trọng trong Dự thảo luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chứng khoán được trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội ngày 16/9.

Hoạt động của các tổ chức kinh doanh, dịch vụ chứng khoán

Cho tới thời điểm hiện tại, đã có 105 công ty chứng khoán và 46 công ty quản lý quỹ đang hoạt động tại Việt Nam. Số thành viên lưu ký của Trung tâm Lưu ký chứng khoán là 122 thành viên trong đó có 8 ngân hàng lưu ký và 12 tổ chức mở tài khoản trực tiếp (gồm các ngân hàng thương mại là thành viên đặc biệt của thị trường trái phiếu chuyên biệt).

Hoạt động của công ty chứng khoán đã có những bước thay đổi lớn trên tất cả các mặt như số lượng, quy mô vốn, cơ sở vật chất, nhân sự, quy mô cung cấp dịch vụ và chất lượng hoạt động. Tính từ thời điểm cuối năm 2005 đến nay, có thể thấy rõ những thay đổi như sau: Số lượng công ty chứng khoán tăng gấp 7,5 lần; mạng lưới hoạt động của công ty chứng khoán tăng nhanh; số lượng người hành nghề tăng nhanh, phù hợp với sự tăng trưởng của các công ty chứng khoán; các công ty chứng khoán từng bước triển khai ngày càng đầy đủ và đa dạng các loại hình nghiệp vụ kinh doanh đã được cấp phép; doanh số hoạt động tăng mạnh theo từng năm...

Đối với các công ty quản lý quỹ, trong giai đoạn đầu phát triển của thị trường chứng khoán từ năm 2000 đến năm 2005 mới chỉ có 6 công ty quản lý quỹ. Tuy nhiên, số lượng các công ty quản lý quỹ mới được thành lập tăng nhanh kể từ năm 2006 trở lại đây. Cho tới thời điểm hiện nay, đã có 47 công ty được cấp phép hoạt động. Tính tới thời điểm hiện tại, tổng lượng tài sản do các công ty quản lý quỹ quản lý đạt hơn 66.500 tỷ đồng (tương đương hơn 3,8 tỷ USD). Về kết quả hoạt động kinh doanh thì toàn ngành quản lý quỹ nhìn chung vẫn có lợi nhuận, kể cả trong năm 2008 khi TTCK sụt giảm mạnh (lợi nhuận cả năm ước đạt 7,3 tỷ đồng, giảm tới 90% lợi nhuận so với năm 2007). So với hệ thống các công ty chứng khoán, các công ty quản lý quỹ đầu tư chứng khoán được quản lý tương đối chặt chẽ, dựa trên những quy định được xây dựng phù hợp với thông lệ quốc tế. Vì vậy, tránh được các xung đột lợi ích.

Tăng thêm các quy định

Tuy nhiên, để phù hợp hơn nữa với thực tế hoạt động của công ty quản lý quỹ, việc bổ sung nghiệp vụ tư vấn đầu tư chứng khoán vào nghiệp vụ kinh doanh của công ty quản lý quỹ là cần thiết và cũng phù hợp với thông lệ quốc tế, làm cơ sở cho việc giám sát của cơ quan quản lý nhà nước. Nội dung sửa đổi này được thể hiện tại khoản 16 Điều 1 của Dự thảo Luật.

Tại Khoản 1 Điều 60 và khoản 1 Điều 61 Luật Chứng khoán quy định các nghiệp vụ kinh doanh của công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ; đây là hoạt động kinh doanh có điều kiện, có tính chuyên ngành cao nên pháp luật quy định các điều kiện hết sức chặt chẽ, cụ thể đối với từng nghiệp vụ như điều kiện về chuyên môn, vốn, công nghệ, quản trị… và chỉ có công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ mới được thực hiện.

Thực tế trong thời gian vừa qua, nhiều doanh nghiệp không phải là công ty chứng khoán thực hiện các hoạt động môi giới, tư vấn đầu tư chứng khoán mà không có giấy phép của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước. Các tổ chức này không sử dụng nhân viên có giấy phép hành nghề, không đáp ứng đủ các điều kiện trong hoạt động kinh doanh và không tuân thủ các quy định về chứng khoán và thị trường chứng khoán dẫn đến tiềm ẩn nhiều rủi ro cho hoạt động của thị trường. Tuy nhiên, việc xử lý vi phạm gặp khó khăn vì chưa có quy định đây là hành vi bị cấm và luật pháp cũng chưa nói rõ chỉ các tổ chức kinh doanh chứng khoán được thực hiện các hoạt động này.

Để khắc phục bất cập này, dự thảo bổ sung vào Điều 9 của Luật Chứng khoán quy định cấm thực hiện hoạt động kinh doanh chứng khoán khi chưa được cấp phép. Nội dung sửa đổi này được thể hiện tại khoản 7 Điều 1 của Dự thảo Luật.

Về mở rộng phạm vi của nghiệp vụ quản lý danh mục đầu tư chứng khoán của công ty quản lý quỹ cũng được nói tới. Theo quy định của Luật Chứng khoán hiện hành, nghiệp vụ quản lý danh mục đầu tư chứng khoán của công ty quản lý quỹ chỉ tập trung vào chứng khoán (khoản 26 Điều 6). Chính quy định này đã hạn chế ưu thế, năng lực của các công ty quản lý quỹ và không phù hợp với thông lệ quốc tế (Theo thông lệ quốc tế, công ty quản lý quỹ bên cạnh việc quản lý danh mục đầu tư vào chứng khoán còn được đầu tư một phần vào các tài sản khác theo ủy thác của khách hàng. Dự thảo Luật bổ sung nội dung “các tài sản khác” vào  khái niệm “Quản lý danh mục đầu tư chứng khoán” quy định tại khoản 26 Điều 6 Luật chứng khoán).  Việc sửa đổi này phù hợp với cam kết WTO mà Việt Nam là thành viên, đồng thời cũng đáp ứng với nhu cầu hoạt động của công ty quản lý quỹ trong giai đoạn hiện nay.

Với 16 điều được sửa đổi, bổ sung, dự án luật còn quy định về điều kiện chào bán cổ phiếu ra công chúng theo hướng khi đăng ký chào bán, các doanh nghiệp phải cam kết đưa chứng khoán chào bán niêm yết, đăng ký giao dịch tại thị trường chứng khoán có tổ chức trong thời hạn một năm kể từ ngày kết thúc đợt chào bán được đại hội đồng cổ đông hoặc chủ sở hữu thông qua.

Dự thảo luật còn yêu cầu công bố thông tin theo quy mô của công ty đại chúng (mức vốn điều lệ, số lượng cổ đông của công ty) mà không phân biệt giữa công ty đại chúng và tổ chức niêm yết nhằm đảm bảo tất cả các công ty quy mô vốn lớn đều phải thực hiện công bố thông tin đầy đủ và ở mức cao hơn so với công ty có quy mô vốn nhỏ.

Việc sửa đổi các quy định này sẽ tạo tính chặt chẽ, tính thống nhất của các quy định; tạo cơ sở pháp lý để cơ quan quản lý nhà nước xử lý các trường hợp vi phạm.

N.Phương
search