Đây là nội dung đánh giá thường kỳ dựa trên một cuộc rà soát chính sách thương mại Mỹ của WTO vào cuối tháng 9/2010. Cuộc rà soát này là một nhiệm vụ được quy định trong các hiệp định của WTO.
Đánh giá thường kỳ về chính sách thương mại Mỹ của WTO cho thấy mặc dù Mỹ đã nỗ lực ổn định chính sách nhưng vẫn không thoát khỏi suy thoái
Cố gắng giữ ổn định
Theo báo cáo rà soát, Mỹ là một trong những quốc gia có cơ chế đầu tư và thương mại thông thoáng nhất trên thế giới và không có thay đổi trong suốt thời gian tiến hành rà soát. Giống như hầu hết các quốc gia thành viên khác của WTO, Mỹ đã phải chịu nhiều áp lực trong việc đối phó với cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu thông qua các biện pháp thắt chặt các quy định về nhập khẩu.
Các biện pháp biên giới như thuế quan và những hạn chế định lượng hầu như vẫn không đổi kể từ đánh giá trước của Mỹ và chính điều này đã phản ánh được tính ổn định chung trong cơ chế thương mại của họ. Mức thuế trung bình đơn giản áp dụng cho các quốc gia tuân theo nguyên tắc tối huệ quốc (MFN) vẫn ở mức 4,8% như cuối năm 2007, thời điểm bắt đầu diễn ra cuộc khủng hoảng. Mỹ đã xóa bỏ hạn ngạch áp đặt lên nhập khẩu của nhiều hạng mục dệt và quần áo từ Trung Quốc trong tháng 12/2008. Những quy định hạn chế và kiểm soát cũ về số lượng hàng hóa nhập khẩu vẫn được duy trì nhằm bảo vệ sức khỏe, an toàn và môi trường hay vì các mục đích chính sách nước ngoài. Những hạn chế này bao gồm một lệnh cấm mới đối với nhập khẩu thực vật vi phạm luật nước ngoài. Các quy định về xuất khẩu được sử dụng cho những mục đích an ninh và chính sách nước ngoài đã không thay đổi mặc dù một cuộc rà soát quan trọng hiện vẫn đang được thực hiện.
Các biện pháp thương mại biên giới phần lớn liên quan tới các biện pháp ngẫu nhiên cũng có rất ít thay đổi trong suốt thời kỳ rà soát. Trong tháng 9/2009, Tổng thống đã đưa ra một quyết định theo luật về an toàn nhằm áp dụng các thuế phát sinh đối với săm lốp nhập khẩu từ Trung Quốc trong thời gian 3 năm. Xét tới các biện pháp ngẫu nhiên khác, Mỹ đã có 246 vụ áp thuế chống phá giá trong tháng 12/2009, nhiều hơn 22 vụ so với năm 2007. Những biện pháp này đã ảnh hưởng tới hoạt động nhập khẩu từ 40 quốc gia và lãnh thổ. Trong khi cuộc khởi xướng điều tra chống phá giá trong năm 2008-2009 vẫn thấp hơn nhiều so với mức đỉnh điểm của năm 2007 thì những đóng góp của các cuộc điều tra đưa ra kết quả cuối cùng về các trường hợp chống bán phá giá lại gia tăng kể từ đó.
Một quyết định của Mỹ trong năm 2007 đã thay đổi chính sách có từ lâu đời về việc không áp dụng thuế đối kháng (CDV) đối với Trung Quốc. Các cuộc khởi xướng điều tra về CDV hầu như đã gấp 3 lần từ giữa những năm 2004-2006 và 2007-2009. Số vụ CDV đã tăng từ con số 31 của năm 2007 lên tới 41 trong tháng 12/2009.
Không tránh khỏi suy thoái
Tính ổn định và thông thoáng chung của cơ chế đầu tư và thương mại Mỹ trong suốt thời kỳ đánh giá đã không ngăn chặn được một sự suy giảm mạnh trong thương mại của quốc gia này. Giữa quý III/2008 và quý II/2009, nhập khẩu hàng hóa đã giảm gần 35%. Nhập khẩu hàng hóa cơ bản và hàng tiêu dùng cũng bị ảnh hưởng vì người tiêu dùng “thắt lưng buộc bụng”. Các công ty Mỹ đã trì hoãn các kế hoạch đầu tư nhằm đối phó với nhu cầu tiêu dùng yếu hơn, các khoản chi phí cao hơn, cùng với nhu cầu nhập khẩu giảm dần. Xuất khẩu hàng hóa cũng giảm. Do nhập khẩu giảm mạnh hơn xuất khẩu, thâm hụt tài khoản vãng lai của Mỹ đã thu hẹp đáng kể từ mức đỉnh cao là 6% GDP trong năm 2006 xuống mức 3% GDP trong năm 2009.
Chính quyền Mỹ cho rằng một cuộc hồi phục bền vững sau khủng hoảng sẽ đòi hỏi phải có sự cân bằng lại nền kinh tế hướng tới gia tăng hoạt động đầu tư và xuất khẩu. Hơn 2 năm qua, chính sách thương mại của Mỹ đã tập trung vào đẩy mạnh xuất khẩu cùng với kiểm soát và thi hành các cam kết theo các hiệp định quốc tế. Trong bức thông điệp liên bang tháng 1/2010, Tổng thống Mỹ đã đề ra một mục tiêu gấp đôi lượng xuất khẩu trong vòng 5 năm tới như một phần của nỗ lực cân bằng lại nền kinh tế tách khỏi hoạt động tiêu dùng hộ gia đình. Thêm vào đó, theo các cơ quan chức năng này, một sự chuyển đổi hướng về tiêu dùng gia tăng tại các quốc gia có thặng dư tài khoản vãng lai có thể khiến Mỹ có mức thâm thụt tài khoản vãng lai xấp xỉ 1-2% GDP, tương đương mức giữa những năm 1990.
Nỗ lực vì mục tiêu
Chính quyền Mỹ đang áp dụng chính sách đầu tư và thương mại hỗ trợ cho hồi phục kinh tế và tái cân bằng. Đặc biệt, chính sách thương mại Mỹ đang hướng tới khuyến khích tăng trưởng xuất khẩu bằng việc phân bổ các nguồn lực phát sinh cho các hoạt động thúc đẩy thương mại, kiểm soát và thi hành hiệu lực các cam kết thương mại của các đối tác. Những hoạt động này là một phần trong một Sáng kiến Xuất khẩu Quốc gia mới được thực hiện nhằm hỗ trợ đạt mục tiêu gấp đôi xuất khẩu trong 5 năm tới.
Một số biện pháp chống suy thoái bao gồm các điều khoản ủng hộ các nhà cung cấp hàng hóa và dịch vụ trong nước. Những biện pháp này bao gồm sự hỗ trợ lớn cho các lĩnh vực được lựa chọn, đặc biệt là lĩnh vực sản xuất ô tô và tài chính với các điều khoản nhằm tránh “sự rò rỉ” hỗ trợ ngoài Mỹ. Ví dụ, trong các hiệp định cho vay với Bộ tài chính Mỹ, hai nhà sản xuất xe hơi nội địa lớn đã chấp thuận duy trì các mức sản xuất được quy định tại Mỹ. Những khoản vay này là một phần trong chương trình cứu trợ 85 tỷ USD nhằm ngăn chặn sự sụp đổ trong lĩnh vực sản xuất ô tô Mỹ. Hơn nữa, những ưu tiên nội địa đã được kết hợp chặt chẽ với gói cứu trợ tài chính trị giá 787 tỷ USD vào đầu năm 2009 nhằm đảm bảo rằng sản xuất sắt, thép và các sản phẩm chế tạo được sử dụng trong các dự án công cộng tại Mỹ.
Bên cạnh các chính sách chống lại suy thoái, những biện pháp mới ảnh hưởng tới thương mại trong suốt thời kỳ rà soát có liên quan tới an ninh và an toàn. Mỹ đã thông qua đạo luật nông trại mới (2008). Giống như những đạo luật nông trại trước đây, hầu hết hỗ trợ theo đạo luật mới sẽ không phải giành cho công việc trồng trọt mà cho các chương trình dinh dưỡng cho các hộ gia đình thu nhập thấp và một phần lớn của quỹ cho các nông dân đã được tách riêng ra khỏi sản xuất. Nhìn chung, hỗ trợ cho nông nghiệp tại Mỹ như một tỷ lệ của giá trị sản xuất vẫn thấp so với các quốc gia thuộc tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) và một số quốc gia không thuộc OECD. Tuy nhiên, phạm vi lớn của ngành nông nghiệp cho thấy lượng hỗ trợ tuyệt đối là đáng kể, thay đổi từ năm này tới năm khác và có thể ảnh hưởng tới các thị trường thế giới.
Trong số những biện pháp tăng an toàn nhập khẩu có những yêu cầu mới về thông tin đi trước đối với hàng hóa tới Mỹ bằng đội tàu theo luật được gọi là “10+2”. Đề cập tới yêu cầu kiểm tra cẩn thận 100% công-ten-nơ trước khi bốc hàng lên các đội tàu của Mỹ, Bộ trưởng an ninh quốc gia (Secretary of Homeland Security) đã ám chỉ rằng sáng kiến an ninh này hiện tại không thể áp dụng tại nhiều cảng và sẽ hướng tới áp dụng những gia hạn được luật pháp ủy quyền để trì hoãn việc thực hiện tới sau năm 2012.
Trong nỗ lực tăng tính an toàn cho hàng nghìn sản phẩm tiêu dùng bao gồm những sản phẩm cho trẻ từ 12 hoặc nhỏ hơn, Đạo luật Cải thiện An toàn Sản phẩm Tiêu dùng (Consumer Product Safety Improvement Act) của năm 2008 đã đưa ra một loạt các quy định và biện pháp thi hành đối với các sản phẩm nội địa và nhập khẩu. Trong số những biện pháp đó có các quy định đối với sản phẩm mới, những yêu cầu kiểm tra bên thứ ba về nhãn mác và những kiểm soát biên giới.
Việc theo đuổi tự do hóa trên một cơ sở MFN có thể mang lại cho Mỹ thêm lợi thế giúp giảm những rủi ro tương lai của các biện pháp bảo hộ trong nước và nước ngoài và một lần nữa xác nhận vai trò lãnh đạo của Mỹ vốn đã là một yếu tố quan trọng trong việc giành mục tiêu của hệ thống thương mại đa phương kể từ thủa ban đầu.
Bùi Huyền