Có đi khắp mọi miền đất nước, gặp và hỏi bất cứ những ai đang mải miết với những khối bột đủ màu sắc rằng: “Quê anh/chị/chú/bác ở đâu”? 100% câu trả lời sẽ là: “Quê tôi là làng Xuân La - Phượng Dực - Phú Xuyên - Hà Nội mới đấy”. Chẳng phải họ “nhận vơ” để “làm giá” mấy con tò he đó đâu mà bởi vì từ xưa đến giờ, cuộc mưu sinh của những người nặn tò he đều gắn liền với những chuyến đi bất tận.
Nếu như ngày xưa, người ta chỉ thấy những mẹt tò he được bày bán tại các phiên chợ quê thì nay, tò he đã theo chân người thợ len lỏi vào thành phố rồi tha phương đi khắp nơi để mưu sinh. Tuy nhiên, cuộc sống giờ ngày càng đủ đầy, trẻ con giờ có quá nhiều đồ chơi để lựa chọn, từ đồ chơi sản xuất trong nước đến đồ chơi ngoại nhập... Chính vì vậy mà thứ đồ chơi vốn được kết tinh văn hóa dân tộc từ nhiều đời đang dần bị lãng quên.
1. Còn nhớ ngày nhỏ, trong những lần theo mẹ đi chợ phiên bán hàng. Tan chợ, được mẹ mua cho một con giống rực rỡ sắc màu thì thích mê. Ngày đó, những đứa trẻ như tôi họa chăng đến dịp phiên chợ hay lễ tết mới được người lớn mua cho một món quà, vì thế đứa trẻ nào cũng vui thích khi cầm trên tay cái hình nộm con giống đầy màu sắc ấy. Hơn cả một thứ đồ chơi, cái mùi thơm nức của bột gạo nếp, vị ngòn ngọt, man mát của đường trắng còn đọng lại nơi đầu lưỡi của những đứa trẻ con nhà nghèo.
Món đồ chơi rất dân dã, thô sơ, mộc mạc ấy đã theo chúng tôi lớn lên, cho chúng tôi niềm tự hào truyền thống dân tộc và yêu hơn mảnh đất quê hương mình. Đến tận bây giờ, khi đã là mẹ của những đứa trẻ, mỗi khi có dịp đưa con đi chơi, tôi vẫn thường kể cho chúng nghe câu chuyện tò he và những nghệ nhân làm nghề.
2. Tò he có từ bao giờ không ai còn nhớ. Chỉ biết từ khi ra đời, nó đã trở thành một thứ đồ chơi dân gian rất được ưu chuộng của trẻ em Việt Nam. Chính vì thế nghề nặn tò he cũng đã trở thành nghề kiếm cơm, kiếm gạo của hàng ngàn người dân làng Xuân La. Đã có một thời, nghề nặn tò he tưởng như đã mai một vì thời ấy đất nước ta còn nghèo lắm, thứ đồ chơi nặn bằng bột gạo được coi là xa xỉ và bị cấm. Sau này, cuộc sống khấm khá hơn, người dân Xuân La lại tiếp tục với nghề, cứ đời này truyền đời sau, các cụ truyền nghề cho con trẻ. Nếu có dịp đến làng Xuân La, hẳn nhiều người sẽ phải trầm trồ thán phục bởi rất nhiều đứa trẻ mới chỉ 7 – 8 tuổi đã tập tành nặn tò he, để rồi sẽ trưởng thành, tha hương khắp nơi để làm nghề và giữ nghề.
Về thăm làng Xuân La vào những ngày giáp Tết. Hỏi thăm vào làng nghề, từ cụ già cho đến các em nhỏ đều có thể chỉ đường tường tận. Tiếp chúng tôi trong căn nhà khá đơn giản về tiện nghi, ông Đặng Đình Bình – Phó Chủ nhiệm CLB tò he làng Xuân La cho biết: Hiện làng Xuân La có khoảng 200 người đang "hành nghề" và sống bằng nghề nặn tò he. Các cuộc mưu sinh của họ đều gắn liền với những chuyến đi bất tận. Đó cũng là lý do vì sao tò he lại có mặt ở khắp mọi nơi, trên mọi miền Tổ quốc. Từ chợ làng, công viên cho tới các hội chợ, triển lãm... Với bàn tay tài hoa, óc tưởng tượng phong phú, cùng đống bột nếp đủ màu, các nghệ nhân đã thổi hồn vào những con giống, khiến chúng có giá trị tinh thần nhiều hơn là giá trị vật chất bởi để sở hữu một con tò he, các “thượng đế tí hon” chỉ mất từ 5 – 10.000 đồng.
Vất vả là thế nhưng thu nhập ở nghề này rất thất thường, gặp ngày đông khách có khi thu nhập một ngày được cả trăm ngàn, thậm chí nhiều hơn, nhưng với những ngày vắng khách, có khi chỉ được vài chục ngàn. Nghề tò he “được mùa” nhất là từ tháng giêng đến tháng ba âm lịch. Thời gian này cũng chính là mùa hội với hàng trăm lễ hội lớn nhỏ khắp các tỉnh miền Bắc: Từ hội đền Hùng, hội đền Cổ Loa, hội Lim, hội gò Đống Đa đến những hội làng. Trong những ngày hội này, người nặn tò he có thể kiếm được 400.000 - 700.000 đồng/ngày, ngày ít nhất cũng không dưới 200.000 đồng.
3. So với khoảng chục năm về trước, số người làm tò he giờ đã giảm khá nhiều, 30% những người thợ tò he đã chuyển sang buôn bán hoặc làm nghề phụ khác. Anh Quang Sự, một thợ nặn trẻ trong làng tâm sự: “Nghề tò he không làm giàu được, chỉ làm cho có đồng ra đồng vào nhưng vẫn khá hơn làm ruộng”. Đúng là so với nghề nông, thu nhập từ nặn tò he mang lại giá trị kinh tế cao hơn và cũng là nguồn thu chính của người dân nơi đây. Bí quyết của nghề này chính là cách nhào và pha chế bột sao cho bột dẻo, thơm, nhưng vẫn giữ được lâu mà không bị mốc và khô. Bột nếp làm tò he sau xay nhỏ mịn, nhào nhuyễn, luộc chín, trộn đều với phẩm màu sẽ được bọc cẩn thận trong túi nilông để chống khô. Phẩm màu của tò he ngày trước được pha chế màu toàn từ những nguyên liệu thiên nhiên như lá cây, hoa, quả. Còn bây giờ người nặn tò he dùng nguyên liệu công nghiệp có sẵn bởi tò he giờ cũng chỉ là đồ chơi cho con trẻ chứ không phải là đồ ăn quà như ngày xưa.
Nặn tò he là nghề tái tạo cuộc sống, nó không theo một khuôn mẫu nhất định nào. Những người làm nghề cứ nhìn thấy cái gì là nặn cái đó. Từ những con vật cụ thể như voi, ngựa, chim, gà, lợn... đến những con vật chỉ có trong trí tưởng tượng của con người như rồng, phượng, hạc... rồi đến những hình người cụ thể như em bé, cô gái, chàng trai, cụ già... Theo yêu cầu của các “thượng đế tí hon”, họ còn nặn cả các nhân vật cổ tích, thần thoại như Tôn Ngộ Không, Trư Bát Giới, Sa Tăng, Bồ Tát, Thủy thủ mặt trăng, Picachu, Pokemon...
Nhìn nét mặt thích thú của con trẻ khi được tận mắt nhìn thấy những con tò he hình thành dưới bàn tay tài hoa của những nghệ nhân, chúng tôi tin rằng tò he rồi sẽ tìm được chỗ đứng trên thị trường đồ chơi cho trẻ nhỏ. Tuy nhiên, để làm được điều này, cần phải có sự định hướng phát triển làng nghề của chính quyền địa phương và các cơ quan chức năng bởi nếu có sự định hướng và chiến lược phát triển nghề, những người dân làng tò he Xuân Lan hoàn toàn có thể tự tin để bước vào một sân chơi lớn, để những cây tò he Xuân La đậm đà hồn dân tộc sẽ là thứ đồ chơi lành mạnh, dân dã và trí tuệ của trẻ nhỏ.
Doãn Hiền