Thứ Tư, 17/08/2011 - 06:10

TTCK: Xanh - đỏ theo chính sách

TTCK trong nước cũng như quốc tế vốn dĩ có độ nhậy cảm rất lớn đối với các biến động trên thị trường tiền tệ cũng như những sự thay đổi trong chính sách điều hành tiền tệ của chính phủ.

Ví dụ điển hình về sự tương quan giữa lãi suất Fed và biến động của chỉ số Dow Jones công nghiệp của Mỹ. Theo thống kê của Forecastchart, nếu như lãi suất Fed tăng 1% trong năm thì chỉ số Dow Jones công nghiệp giảm tương đồng 3,51% trong năm đó và giảm tiếp 0,28% trong năm sau. Ngược lại, nếu như lãi suất Fed giảm 1% trong năm thì chỉ số Dow Jones công nghiệp sẽ tăng 3,29% tại năm đó và sẽ tăng thêm 0,16% vào năm sau. Nhìn vào dữ liệu quá khứ, thì lãi suất Fed luôn có tính hỗ trợ cho sự phục hồi của TTCK trong giai đoạn nền kinh tế và tài chính Mỹ suy yếu. Ngược lại, khi có dấu hiệu lạm phát và bong bóng tài chính, lãi suất Fed được điều chỉnh tăng nhằm hạ nhiệt sự tăng trưởng nóng và xì hơi dần dần trái bong bóng tài chính.

Đối với TTCK VN, diễn biến thị trường lại phụ thuộc rất nhiều vào độ mở của tín dụng đối với nền kinh tế. Trong những giai đoạn tăng trưởng tín dụng cao, TTCK thường có sự bứt phá mạnh cả về quy mô cũng như giá trị. Ngược lại, những giai đoạn tăng trưởng tín dụng ở mức thấp và có xu hướng tiếp tục thắt chặt tiền tệ, thì TTCK khó tránh khỏi sự suy giảm và thậm chí là những chu kỳ khủng hoảng.

Mặc dù chưa có những đánh giá mang tính định lượng về mối tương quan giữa tốc độ tăng trưởng tín dụng và biến động của TTCK, nhưng mối quan hệ thuận chiều mật thiết giữa hai biến số kinh tế này sẽ là đầu vào quan trọng trong việc hoạch định chính sách kinh tế, đặc biệt là chính sách tiền tệ.

TTCK VN đã suy giảm kéo dài do nhiều yếu tố tác động tiêu cực cả bên trong lẫn bên ngoài. Một mặt, chứng khoán trong nước chịu ảnh hưởng chung theo thị trường thế giới do khủng hoảng công nợ tại Châu Âu và Mỹ, cơn bão lạm phát bao trùm khắp thế giới, và những thiên tai, bạo loạn đã xảy ra. Mặt khác, TTCK bị tác động nặng nề hơn bởi những bất ổn và yếu kém của nền kinh tế, đặc biệt là tình trạng lạm phát và lãi suất cao đang làm suy giảm sức khỏe tài chính của các DN. Mặc dù chịu nhiều tác động tiêu cực như vậy, nhưng TTCK không những không có sự hỗ trợ đáng kể nào từ chính sách, ngược lại còn chịu sự thắt chặt tín dụng mạnh chưa từng thấy trong lịch sử, khiến cho thị trường này dần mất đi cả giá trị cốt lõi của nó là kênh huy động vốn hiệu quả nhất tại các nền kinh tế phát triển.

Có quan điểm cho rằng, thị trường tiền tệ là thị trường vốn ngắn hạn, còn TTCK là thị trường vốn trung và dài hạn, nên không dùng vốn ngắn hạn tại thị trường tiền tệ để đầu tư vào TTCK và phải thực hiện nghiêm cấm điều này! Thực chất đây là quan điểm cào bằng khi chưa phân định rõ cơ cấu của TTCK. TTCK được cấu thành bởi thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp, trong đó thị trường thứ cấp mới chính là kênh vốn đầu tư trung và dài hạn, còn phần lớn nhà đầu tư tham gia thị trường thứ cấp là ngắn hạn.

Do vậy, việc đầu tư trên thị trường sơ cấp đòi hỏi nguồn vốn thực có của nhà đầu tư chứ không phải là vốn đi vay, còn tại thị trường thứ cấp với chức năng chủ yếu là tạo thanh khoản cho chứng khoán nhằm thúc đẩy sự phát triển của thị trường sơ cấp thì cần thiết có sự hỗ trợ của nguồn vốn tín dụng ngắn hạn. Ngay cả tại TTCK Mỹ, Cục dự trữ liên bang Mỹ (Fed) quy định cụ thể giao dịch ký quỹ áp dụng trong lĩnh vực chứng khoán chỉ ngoại trừ những giao dịch tại thị trường thứ cấp, thị trường OTC hay những cổ phiếu penny stocks trên thị trường niêm yết. Như vậy, nhà điều hành cần phải tách bạch giữa thị trường thứ cấp và thị trường sơ cấp để có chính sách tiền tệ phù hợp với từng phân khúc thị trường nhằm mục tiêu phát triển TTCK thành một kênh huy động vốn trung và dài hạn cho nền kinh tế.

(Chuyên mục hợp tác với Cty CK Phố Wall)

search